Tự học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hải Yến (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:24' 31-03-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hải Yến (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:24' 31-03-2026
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
NGUYỄN HIẾN LÊ
Mỗi người phải là một vị giáo sư cho chính mình
CARLYLE
TỰA
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Hồi mới ở trường ra, tôi được bổ vào làm sở Công chính Nam- Việt.
Người ta đưa tôi xuống Long Xuyên, giao cho công việc đo mực đất và mực nước ở khắp miền Hậu
Giang và Tiền Giang.
Vì những lẽ về kỹ thuật, chúng tôi phải đo vào ban đêm. Bạn nào ở
những tỉnh từ Châu Đốc tới Bạc Liêu trong mấy năm trước chiến tranh chắc được thấy cứ lâu lâu lại
có một bạn 6-7 người, kẻ cầm đèn pha, kẻ xách thước, hoặc máy, đi nhắm theo các đường cái và bờ
kinh. Bọn đó là chúng tôi. Chúng tôi làm việc từ 6 giờ chiều đến 12 giờ khuya, hoặc từ 12 giờ khuya
đến 6 giờ sáng.
Đời sống khác thường ấy tất nhiên là không thú gì, trong khi thiên hạ
yên giấc thì minh phải lặn lội; gặp những đêm trăng thanh gió mát còn dễ chịu chứ vào mùa mưa thì
cực khổ vô cùng, nhất là những khi phải len lỏi trong đám lau sậy ở đồng Tháp Mười, đã nhiều muỗi
lại nhiều đỉa.
Tuy đời sống của loài vạc đó cúng có cái lợi là chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh lắm. Mỗi ngày được
18 giờ tự do, biết dùng vào việc gì? Đi chơi chùa nào cũng vào, chợ nào cũng ghé rồi chụp hình, nói
chuyện phiếm viết nhật ký… mà vẫn không hết ngày. Đành phải đọc sách.
Có hồi mưa gió liên tiếp 9-10 ngày, chúng tôi phải nằm co trong một chiếc ghe hầu cửa đóng kín mít
và đậu ở trên những kinh Xa-Nô hoặc Phụng Hiệp, xa chợ, xa quận, xa bạn, xa nhà. Buồn ơi là buồn!
Những lúc đó, không có sách đọc, chắc tôi loạn óc mất.
Trang 1
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Nên gặp sách gì tôi cũng đọc, đọc bậy bạ., hỗn độn, vô phương pháp, vô mục đích, đọc từ những
phóng sự của Maurice Dekobra, truyện trinh thám của Conan Doyle đến những sách về Phật học,
Thông thiên học, và Tiểu thuyết thứ bảy của nhà Tân Dân…
Hán tự hồi ấy tôi mới biết lem nhem được vài nghìn chữ mà cũng mua của một Huê kiều gần cầu tầu
Cần Thơ một bộ Văn tâm điêu long!
Đem về ghe, coi trọn một ngày chẳng hiểu chút gì, đành phải bỏ. Hiểu làm sao nổi! Sách thì khó mà
lại in sai be bét và không chú thích.
Thành thử trong 2 năm trời lênh đênh trên sông rạch, đọc hàng trăm cuốn sách mà thật là có ích lợi thì
chỉ khi có mỗi ngày một bộ, tức bộ
Nho giáo của Trần Trọng Kim mà một ngày mưa dầm, vào trú chân trong một quán tạp hoá ở Bạc
Liêu, tôi tình cờ kiếm được trong một tủ
kính ở góc tiệm, bên cạnh những hộp nhang và đèn cầy.
Bây giờ nghĩ lại mà tiếc! Thì giờ nhiều mà không biết dùng, chịu đọc sách mà không biết cách đọc.
Nói cho đúng, tôi cũng có mờ mờ một mục đích đấy, là trau giồi Việt ngữ, nhưng trau giồi ra làm sao
và nên đọc những sách nào thì xin thú thực là hồi đó tôi không nghĩ đến. Thậm chí, tôi không biết mua
sách ở đâu nữa. Tôi không nói ngoa đâu, thưa bạn. Có lần nghe một người giới thiệu cuốn L'Art
d'écrire của A. Albalat, tôi lại nhà sách Hậu Giang ở Cần Thơ hỏi mua, không có rồi thôi, chứ không
biết hỏi những nhà sách lớn ở Sài Gòn hoặc ngay nhà xuất bản ở bên Pháp.
Tới sách xuất bản trong nước tôi cũng không rõ có những loại gì mà sách xuất bản 20 năm trước có
nhiều gì đâu chứ!
Tình cảnh của tôi quả như một người muốn qua một khu rừng mà không biết phương hướng cứ bước
càn, đường đi về phía Bắc lại quay xuống phương Nam rồi rẽ qua Đông, qua Tây…
Đọc sách như vậy không phải là hoàn toàn vô ích. Dù sao cũng còn hơn là miệt mài trên chiếu tứ sắc
hoặc bê tha ở các quán rượu, và tuy chẳng biết chút gì cho rành mạch, nhưng cũng hiểu lõm bõm mỗi
môn một ít đủ để bàn phiếm trong các cuộc hội họp.
Nhưng giá hồi ấy, tôi biết phương hướng, tự vạch sẵn một đường đi
Trang 2
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
tới đích, thì đã chẳng tốn thì giờ mà còn ích lợi gấp mấy. Làm sao trẻ
lại được hai chục năm nhỉ?
Tôi khờ khạo như vậy, cũng là dễ hiểu. Ở trường ra, có ai chỉ cho tôi cách tự học đâu?
Trước sau, tôi được học non 30 ông thầy vừa Việt vừa Pháp. Mà tôi nhớ chỉ có một vị khuyên tôi đọc
sách để luyện Pháp văn, tức cụ
Dương Quảng Hàm. Cụ giới thiệu cho chúng tôi những tác phẩm của Charles Wagner như Pour les
petits et les grands, Au pays de là-peu-près… và bảo chúng tôi tập lối hành văn của tác giả để viết
luận.
Còn khi ra trường rồi, nên đọc thêm những sách gì thì tuyệt nhiên tôi chưa thấy một giáo sư nào chỉ
bảo cho học sinh.
Ngay ở trường Công chính, tức một trường chuyên môn mà cuối năm thứ ba, khi sắp thi ra, cũng không
có ai nói với sinh viên đại loại như
vầy:
“Các anh đã theo hết chương trình rồi đấy. Nhưng các anh nên nhớ kỹ
lời này: những điều trường đã dạy cho các anh mới chì là một phần mười (hoặc một phần trăm) những
điều người ta đã tìm tòi được về
môn Công chính. Những sách các anh đã học, khoảng 2-3 chục cuốn gì đó, chỉ mới là một phần ngàn
(hay một phần muôn) những sách đã xuất bản về môn Công chính. Những máy các anh đã tập nhắm đều
là những máy cũ rích và cả tới phương pháp tính bê tông cốt sắt mà các anh đã học, cũng là cổ lỗ rồi.
Vậy trong khi các anh làm việc, các anh phải học thêm, học thêm hoài để khỏi thành những nhà chuyên
môn lạc hậu, để theo kịp những tiến bộ của kỹ thuật.
Muốn học thêm thì phải tuần tự. Các anh hãy bắt đầu đọc những cuốn này…, những tạp chí này…”.
Tại những ban khác ra sao tôi không biết, chứ ở ban Công chính thì tuyệt nhiên giáo sư không bao giờ
khuyến khích, hướng dẫn học sinh trong sự tự học, có lẽ vì họ không hiểu rõ bổn phận của họ hoặc
không thấy sự tự học là cần thiết.
Thành thử học sinh ở trường ra, một là tưởng cái gì cũng biết rồi, vênh
Trang 3
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
vênh tự đắc không chịu học thêm, hai là muốn tự học thêm mà không biết cách nào, phải dò dẫm lấy,
vừa tốn tiền, tốn sức, vừa ít kết quả rồi sinh ra chán nản. Trong cuốn Un homme fini tác giả là
Giovanni Papini đã tả một cách sâu sắc và hóm hỉnh một anh chàng hăng hái tự
học mà không được người hướng dẫn, phải thí nghiệm hết cách này cách khác, thử môn này môn nọ,
rốt cuộc chẳng kết quả gì cả.
Chung quanh ta, biết bao người ở trong tình cảnh ấy. Có người muốn học thêm chữ Hán, kiếm đâu
được cuốn “Tam thiên tự” hay “Ngũ
thiên tự”, cặm cụi hàng tháng rồi chán nản, quay ra học về luật, về
toán…, môn nào cũng chỉ được ít lâu, thấy khó quá, đành bỏ dở. Sự
thật, những môn đó không khó đến nỗi một người thông minh trung bình không học nổi đâu. Họ không
thành công vì không biết cách học và không tìm được sách, chưa có những thường thúc mà đọc ngay
phải những sách cao đẳng. Họ cũng như tôi hồi trước, chưa thuộc hết bộ Tân Quốc văn mà đã học Văn
tâm điêu long, chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng!
Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại, chỉ được 4-5 người
thành công, nhờ có nhiều nghị lực, chịu kiên nhẫn, lại thông minh, mau hiểu, mau nhớ, nhất là nhờ may
mắn, gặp ngay được một môn hợp với khả năng của minh và những sách hợp với trình độ của mình.
Nghĩ mà buồn: ngay sự học hành, tu luyện của ta cũng đành phó cho may rủi!
Ở Pháp, giữa thế kỷ trước, Auguste Comte đã viết sách hướng dẫn độc giả. Rồi tới đầu thế kỷ này
Henri Mazel soạn cuốn Ce qu'il faut lire dans sa vie, H. de Brandis cho xuất bản cuốn Comment
choisir nos lectures. Gần đây có những cuốn: L'Art de former une bibliothèque của Emile Henriot.
La Bioliothèque de l'Honnête homme của một nhóm học giả soạn
dưới sự điều khiển của M. P. Wigny.
Que lire? Của M. J. Capart.
Organisation du travail intellectuel của P. Chavigny.
La Documentation en science économique của G. Dykmans.
Trang 4
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Voulez-vous étudier seul? của Max Fauconnier.
Quels livres faut il avoir lus? của A. Souché.
Ngoài ra, còn có những cuốn dạy cách đọc sách, như cuốn “L'Art de lire” của Emile Faguet, “Un art
de lire” của A. Jans…
Tại nước mình, chưa có cuốn nào trong loại ấy.
Chúng tôi tự xét học còn ít lắm, nhưng nghĩ ai cũng có bổn phận đem những học hỏi, kinh nghiệm của
mình giúp người khác, nên soạn cuốn sách này để các bạn thanh niên mới ra trường đỡ phải bỡ ngỡ
trong những bước đầu trên con đường tự học.
Chúng tôi khảo cứu một số những sách đã kể ở trên - những cuốn nào mà chúng tôi tìm được - rồi so
sánh lời khuyên của tác giả với kinh nghiệm riêng của mình để tìm ra một phương pháp.
Không khi nào chúng tôi dám tin rằng phương pháp ấy hoàn hảo vì chẳng riêng gì cá nhân, ngay đến cả
nhân loại, hễ còn sống là còn tìm kiếm, thí nghiệm để cải thiện mọi công việc. Vậy chắc chắn cuốn
sách này còn nhiều chỗ sơ sót. Sở dĩ chúng tôi dám trình nó với độc giả là còn mong những bực cao
minh sẽ vì các bạn trẻ hiếu học mà vạch giùm những chỗ thiếu hoặc sai và chỉ bảo cho những kinh
nghiệm riêng tư của chư vị. Được vậy thì thực là vạn hạnh cho chúng tôi.
Long Xuyên ngày 3-1-1954
Trang 5
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Chương I
TẠI SAO PHẢI TỰ HỌC?
Học hoài đi. Cái hại nhất ta tự làm cho ta là thôi học. Thôi học lúc
nào là bắt đầu thụt lùi lúc ấy.
H. N. CASSON
Tôi đặt hạnh phúc của tôi trong sự tìm tòi để hiểu biết.
CLÉMENCEAU
1. Thế nào là tự học
2. Tự học là một nhu cầu tự nhiên.
3. Tự học là một sự cần thiết:
a. Bổ khuyết nền giáo dục ở trường.
b. Có tự học mới làm tròn nhiệm vụ được.
c. Cần biết dùng thì giờ rảnh.
d. Tự học là một nhu cầu của thời đại.
4. Tự học là một cái thú:
a. Tự học là một cuộc du lịch.
b. Ta có quyền tự lựa chọn giáo sư.
c. Các giáo sư đó an ủi ta.
d. Thú vui rất thanh nhã của sự tự học.
5. Cái lợi thiết thực của sự tự học.
Trang 6
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
1. THẾ NÀO LÀ TỰ HỌC?
Các tự điển đều cho tự học là học lấy, không cần thầy. Theo thiền ý, như vậy là sai.
Tôi đóng tiền theo một lớp hàm thụ. Người ta gởi bài cho tôi học, chỗ
nào không hiểu, tôi viết thư hỏi. Người ta lại ra bài cho tôi làm, làm xong có giáo sư sửa. Như vậy là
tôi học có thầy mà cũng vẫn là tự
học.
Thợ thuyền ở Âu, Mỹ, buổi tối thường theo học những lớp dạy về
nghề nghiệp hoặc chính trị… Họ cũng cắp sách tới trường, cũng nghe giáo sư giảng bài rồi về nhà làm
bài, học bài như chúng ta hổi nhỏ
vậy. Mà có ai bảo rằng họ không phải là tự học?
Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không, ta
không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào
cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng.
2. TỰ HỌC LÀ MỘT NHU CẦU TỰ NHIÊN CỦA LOÀI NGƯỜI
Hiểu nghĩa như vậy thì sự tự học là một nhu cầu tự nhiên của loài người.
Chúng ta ai cũng có bản năng tò mò muốn hiểu rõ thêm chính thân ta và vũ trụ ở chung quanh. Nhờ vậy
loài người mơi văn minh, làm chủ
vạn vật, nên có người đã nói một cách ngộ nghĩnh rằng: “Người chỉ
khác loài vật ở chỗ biết hỏi: Tại sao?”
Tuy ai cũng tò mò muốn hiểu biết thêm nhưng phần đông chúng ta có tánh làm biếng, lười suy nghĩ,
không chịu khó nhọc tìm tòi, chỉ thích những cái vui dễ kiếm, và một khi đã đủ ăn, không cần thấy phải
bồi dưỡng tinh thần, đạo đức nữa, nên số người tự học rất ít và người nào đã kiên tâm tự học thì sớm
muộn gì cũng vượt hẳn lên trên những người khác, không giàu sang hơn thì cũng được kính trọng hơn.
3. TỰ HỌC LÀ MỘT SỰ CẦN THIẾT
Trang 7
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
a) Bổ khuyết nền giáo dục ở trường.
Trong cuốn Thế hệ ngày mai, tôi đã chỉ trích nền giáo dục hiện thời của ta. Nó có nhiều khuyết điểm
mà hai khuyết điểm lớn là:
- Quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục. Ở ban tiểu học, trong 26 giờ, có tới 23 giờ rưỡi
để luyện trí; ở năm thứ 4 ban cao tiểu cũng vậy; còn ở lớp Tân Đệ nhất(1θ moderne) để thi Tú tài
phần nhất, mỗi tuần học sinh học 23 giờ thì có tới 22 giờ về trí dục, thể dục được 1 giờ, đức dục tuyệt
nhiên không có. Tuỳ từng ban, số giờ dạy khoa học chiếm từ 35 tới 56 phần trăm số giờ tổng cộng.
Người ta muốn cho trẻ biết gần đủ các ngành của khoa học; nhưng vì biển học mênh mông, mỗi ngày
sự hiểu biết của loài người càng tăng tiến, dù học suốt đời cũng chưa được bao nhiêu, huống hồ chỉ
mới học trong mươi năm, nên ở ban Trung học ra, học sinh chỉ mới biết qua được it đại cương, ít
thường thức về mỗi ngành mà thôi.
Ở ban Đại học ra thì cũng vậy: về thường thức đã chẳng biết gì hơn mà về ngành chuyên môn thì cũng
chỉ mới học được những điều căn bản. Một bác sĩ y khoa, một dược sư, một tấn sĩ luật khoa chẳng
hạn, nếu không học thêm thì khi mới ở trường ra có biết gì về sử ký, địa lý… hơn một cậu Tú đâu, và
sự học chuyên môn của họ đã có thể giúp ích gì được nhiều đâu.
Vậy họ phải tự học để mang trí tuệ, trau giồi nghề nghiệp và nhất là tu thân luyện tính, tức bổ một chỗ
khuyết lớn trong nền giáo dục họ đã hấp thụ được trên ghế nhà trường.
- Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ. Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới
môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ
phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý.
Từ đầu thế kỷ này, biết bao giáo sự và học giả ở Pháp, từ Taine tới Gustave Le Bon, A. Carrel,
Gaston Viaud, Paul Labérenne… đã mạt sát lối bắt nhớ nhiều mà không tập cho suy nghĩ ấy.
Mười nhà doanh nghiệp tiếp xúc với thanh niên thì 9 người phàn nàn rằng “số trung bình những học
sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ
huy”.
Trang 8
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Ông Stanley còn nói ba phần tư những thanh niên Anh người ta gởi qua châu Phi cho ông, ngạc nhiên
và luýnh quýnh khi ông bảo họ suy nghĩ lấy. Tại nước Anh còn vậy, nói gì đến nước mình!
Trường học bây giờ đào tạo những con người máy như vậy đó. Nếu ta muốn làm con người chứ không
chịu mãn đời làm cái máy thì tất nhiên ta phải tự học.
b) Có tự học mới làm tròn nhiệm vụ của ta được
Trong gia đình ta có bổn phẩn dạy con, săn sóc sức khoẻ cho mọi người, làm hàng chục những công
việc lặt vặt mà trường có dạy ta chút gì về những chức vụ đó đâu.
Trong xã hội ta phải giao thiệp với mọi hạng người, phải biết ăn nói, biết dò xét tâm lý, chỉ huy, tổ
chức… mà những môn ấy, trường không hề dạy cho ta biết.
Rồi nhiệm vụ làm công dân ở thời đại này nữa, mới nặng nhọc làm sao! Không thể trông cậy vào sự
học ở nhà trường để làm trọn nó được.
Từ khi có bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của các nhà cách mạng ở Pháp, lần lần dân
trong mỗi nước văn minh được quyền tham gia chính trị. Quốc gia không phải là riêng của một nhóm
nào nữa và ai cũng có bổn phận lo việc nước. Thực đúng như lời cố nhân:
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Một lá thăm của ta, mỗi sự
quyết định của ta có thể ảnh hưởng lớn tới sự thịnh suy của cả dân tộc.
Nhiệm vụ quan trọng như vậy mà phần đông chúng ta chẳng hiểu chút gì về chính trị, kinh tế.
Nhờ khoa học, sự giao dịch, thông tin, truyền bá tư tư tưởng phát triển rất mạnh, không một quốc gia
nào ở thời này không chịu ảnh hưởng gần hay xa của các biến cố trong những quốc gia khác. Chiến
tranh ở
Triều Tiên, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, sức khoẻ của Staline, tình hình đình công ở Pháp, nổi loạn ở
Ba Tư, sự tái võ trang nước Đức…, nhất nhất đều định đoạt trong một phần nào chính sách ngoại giao
kinh tế của ta. Cho nên khoa chính trị và kinh tế phức tạp, khó khăn
Trang 9
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
hơn hồi xưa vô cùng. Ta phải biết sử ký, địa lý của mỗi nước, phải biết đời sống và tư tưởng các nhà
cầm quyền của các cường quốc, chính sách ngoại giao của mỗi nội các, tình hình các đảng phái quan
trọng ở Pháp, Anh, Mỹ…, tóm lại biết bao nhiêu điều mà ở trường ra, ta chẳng hiều mảy may gì cả.
Đành phải học lấy.
c) Cần biết dùng thì giờ rảnh.
Tự học còn là một sự cần thiết ở thế kỷ này vì chúng ta có rất nhiều thì giờ rảnh. Hồi xưa anh em lao
động phải làm 12 có khi 14 giờ một ngày. Mới cách đây độ 100 năm, thợ thuyền ở Pháp có khi luôn 56
tháng không được biết ánh sáng mặt trời. Họ dậy từ lúc còn tối, tới hãng làm việc trong hầm luôn tới
trưa, được nghỉ tay 1 giờ để ăn uống ngay tại hãng rồi làm việc tiếp tới khi mặt trời lặn mới được về
nhà, ăn xong, lăn ra ngủ để sáng sớm hôm sau sống cuộc đời hắc ám như vậy tháng này qua tháng khác.
Từ khi luật lao động được áp dụng, chúng ta chỉ phải làm 48 hoặc 40
giờ một tuần. Khoa học càng ngày càng tiến, số giờ đó sẽ còn rút nữa.
Biết đâu đấy, trong vài chục năm nữa, điện tử và nguyên tử lực chẳng cho ta được nghỉ mỗi ngày thêm
vài giờ nữa. Nếu không học thêm thì làm gì cho hết thì giờ rảnh đó? Goethe đã nói: “Vấn đề dùng
những lúc rảnh là vấn đề khó giải quyết nhất của loài người”. Lời đó rất chí lý. Dù có đặt thêm nhiều
món tiêu khiển hữu ích cho anh em lao động thì cũng không đủ, vì chơi hoài sẽ chán; chỉ còn cách là
khuyến khích họ tự học. Nhờ học thêm mà anh em lao động sẽ thấy mình khỏi bị nô lệ máy móc, vì có
dịp suy nghĩ để tránh những công việc quá chuyên môn.
Ông Fourastié trong cuốn Les 40.000 heures bảo hiện nay trí thức của loài người tăng tiến rất mau mà
trong ít chục năm nữa, chúng ta sẽ chỉ
còn phải làm việc 30 giờ một tuần, 40 tuần một năm, lúc đó sự học thêm, sự tự học sẽ là một nhu cầu
khẩn thiết. Hiện nay ở Âu, Mỹ
người ta đã cảm thấy nhu cầu đó rồi.
d) Tự học là một nhu cầu của thời đại – Vừa làm vừa học – Còn
sống còn học.
Ở Pháp, mới trong khoảng mười năm nay, xuất hiện một quan niệm
Trang 10
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
mới càng ngày càng được nhiều người lưu ý tới: quan niệm “giáo dục thường xuyên” (éducation
permanente).
Trước hết, người ta thấy trong mọi ngành, tri thức của loài người tăng tiến rất mau. Chẳng hạn trong
ngành Y khoa, một bác sĩ chuyên trị các bệnh ngoài da bảo tôi: “Năm nào cũng có nhiều phát minh
mới trong ngành chuyên môn của tôi, thành thử sách mới phát hành, khi bầy ở
tiệm sách thì đã hoá cũ rồi. Phải đọc đều đều nhiều tạp chí Y khoa thì mới theo dõi được những tấn bộ
trong nghề”. Những ngành khác cũng gần như vậy.
Rồi người ta lại nghiệm rằng trong mọi ngành hoạt động, một nhân viên trong bất kỳ một cấp bực nào,
càng hiểu biết rộng bao nhiêu thì làm việc càng đắc lực bấy nhiêu. Tất nhiên họ phải hiểu biết về nghề
nghiệp của họ; nhưng bấy nhiêu chưa đủ, họ còn cần biết ít nhiều về
trào lưu tư tưởng trên thế giới, về văn chương, nghệ thuật, chính trị, kinh tế, xã hội học, tâm lý học
nữa. Cho nên trong một hãng nọ, viên Giám đốc mời một vị thạc sĩ văn chương lại diễn thuyết cho
nhân viên nghe về tác phẩm: “Ngư ông và biển cả” của Hemingway rồi cùng thảo luận về nguyện vọng
của loài người trong thời đại này; lần khác mời một thạc sĩ triết học lại nói chuyện về “thân phận con
người trong kịch của Jean Paul Sartre”.
Vậy tri thức chuyên môn tuy vẫn là cần thiết mà tri thức phổ thông càng ngày càng có giá trị vì nó bổ
túc cho cái trên.
Nhưng ở trường học, dù là những trường cao đẳng, đại học, cũng không thể nào dạy đủ được; mà ở
trường ra vài ba năm, nếu sinh viên không theo dõi những tấn bộ trong ngành của mình, thì tri thức
cũng hoá ra lỗi thời cho nên cần có một tổ chức giáo dục thường xuyên.
Ở Pháp, có người đã nghĩ nên rút bớt số giờ làm việc trong mỗi tuần để bổ túc sự giáo dục về nghề
nghiệp và về trí thức phổ thông cho các hạng nhân viên (Bản báo cáo của Rueff Armand – 1960, Tạp
chí
Hommes et Commerce 1963); có người lại mong rằng vài chục năm nữa người ta có thể cho các nhân
viên cao cấp trong mọi ngành cứ làm việc năm sáu năm lại được nghỉ một năm, trở lại Đại học, sống
đời sinh viên trong một năm để trau dồi thêm kiến thức mà theo kịp những
Trang 11
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
tấn bộ về ngành của mình. (Louis Armand – Encyclopédie Universelle
– Gérard et Cie).
Hiện nay những nguyện vọng đó chưa có một quốc gia nào thực hiện được – nước nào, ngân sách về
quốc phòng cũng quá cao mà ngân sách về giáo dục cũng quá thấp – nhưng chỉ vài chục năm nữa thôi,
người ta phải thoả mãn cái nhu cầu của thời đại đó, cái nhu cầu học hỏi thêm hoài, vừa làm vừa học,
còn sống còn học.
Từ sau thế chiến, sự khao khát học hỏi của loài người tăng lên dữ dội.
Ở Pháp, người ta đã tính cứ 100 thanh niên, năm 1900 có 1,5 học tới Tú tài và 1 tới Cử nhân, năm
1920 có 2,2 học tới Tú tài và 2 tới Cử
nhân, năm 1950 có 5 học tới Tú tài và 2 tới Cử nhân, năm 1960 có 11,5 học tới Tú tài và 3,3 tới Cử
nhân, năm 1970 sẽ có 23 học tới Tú tài và 7 tới Cử nhân.
Nghĩa là từ 1950 trở đi, cứ 10 năm thì tỉ số thanh niên có Tú tài, cử
nhân lại tăng lên gấp đôi.
Số sách bán được cũng tăng lên rất mạnh. Ở Huê Kỳ chỉ trong 5 năm, từ 1955 đến 1960, số sách bán
được tăng lên 65% mà số máy truyền hinh (télévision) lại giảm đi trên 20%. Tăng lên mạnh nhất là
loại sách rẻ tiền như Livres de poche, Marabout, Cardinal. Trình độ của những loại sách này cũng
mỗi ngày một tiến; mới đầu người ta chỉ in tiểu thuyết, rồi lần lần người ta xuất bản những cuốn phổ
thông kiến thức về bách khoa.
Ở Pháp không biết có tới mấy chục thứ sách Bách Khoa: từ những thứ
cho thanh niên như Encyclopédie pour la Jeunesse của nhà Larousse, tới những thứ cho những người
lớn ít học như Encyclopédie
universelle của nhà Gérard et Cie, những thứ trình độ cao hơn cho hạng người trí thức như Clarrtés,
Les Grandes encyclopédies
pratiques, Encyclopédie francaise – Larousse… Lại còn những sách nhỏ xét riêng từng vấn đề một
như trong các loại Que Sais-je, Pour connaitre, Petite bibliothèque Payot, Idées (Gallimard) Voici;
Pourquoi? Comment? Ce qu'il nous faut savoir… đủ trình độ cho mọi hạng người chuyên môn hoặc
không chuyên môn. Người ta hiếu học như vậy, trách chi mà chẳng tiến mau.
Trang 12
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
*
Ở một nước lạc hậu, kém phát triển như nước ta, sự giáo dục càng có một tầm quan trọng đặc biệt.
Chúng ta phải thanh toán cho mau cái nạn mù chữ, chúng ta lại phải nâng cao trình độ của quốc dân để
có thể theo kịp được các nước tiên tiến.
Giáo dục ở nhà trường đã thiếu sót mà chúng ta lại chưa thể nghĩ đến một chính sách giáo dục thường
xuyên, cũng chưa có những tổ chức giáo dục sau khi ra trường, thì ít nhất chúng ta cũng phải lưu tâm
tới sự giáo dục đại chúng bằng sách báo.
Đành rằng trong lúc này mọi hoạt động phải hướng cả về chiến tranh, nhưng chúng ta cũng nên nhìn xa
một chút. Cuộc chiến tranh bi thảm này trễ lắm là năm, mười năm nữa cũng phải dứt hoặc tạm ngưng.
Sức chịu đựng của dân chúng xứ nào cũng có hạn – và lúc đó phải kiến thiết. Chiến tranh càng kéo dài
thì khi thái bình, sự kiến thiết càng đòi hỏi nhiều nỗ lực. Và làm sao chúng ta có thể kiến thiết cho
mau, cho đắc lực được khi mà trình độ kỹ thuật và văn hoá của quốc dân rất thấp kém. Khi năm chục
phần trăm dân chúng còn mù chữ, ba chục phần trăm khác may lắm đọc được một trang báo và làm
được bốn phép toán, và tám, chín phần trăm nữa không đọc cái gì khác mấy tờ
báo hằng ngày, mấy tờ báo điện ảnh, mấy tiểu thuyết rẻ tiền; khi những cán bộ trung cấp không hiểu
chút gì về những tư trào hiện đại trên thế giới, những vấn đề khẩn cấp của nhân loại, không nhận chân
được cái hướng tiến của xã hội; khi đa số giáo sư không biết chút gì về
những phong trào tân giáo dục, khi đa số kỹ sư không biết môn tổ
chức công việc từ sau thế chiến đ
NGUYỄN HIẾN LÊ
Mỗi người phải là một vị giáo sư cho chính mình
CARLYLE
TỰA
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Hồi mới ở trường ra, tôi được bổ vào làm sở Công chính Nam- Việt.
Người ta đưa tôi xuống Long Xuyên, giao cho công việc đo mực đất và mực nước ở khắp miền Hậu
Giang và Tiền Giang.
Vì những lẽ về kỹ thuật, chúng tôi phải đo vào ban đêm. Bạn nào ở
những tỉnh từ Châu Đốc tới Bạc Liêu trong mấy năm trước chiến tranh chắc được thấy cứ lâu lâu lại
có một bạn 6-7 người, kẻ cầm đèn pha, kẻ xách thước, hoặc máy, đi nhắm theo các đường cái và bờ
kinh. Bọn đó là chúng tôi. Chúng tôi làm việc từ 6 giờ chiều đến 12 giờ khuya, hoặc từ 12 giờ khuya
đến 6 giờ sáng.
Đời sống khác thường ấy tất nhiên là không thú gì, trong khi thiên hạ
yên giấc thì minh phải lặn lội; gặp những đêm trăng thanh gió mát còn dễ chịu chứ vào mùa mưa thì
cực khổ vô cùng, nhất là những khi phải len lỏi trong đám lau sậy ở đồng Tháp Mười, đã nhiều muỗi
lại nhiều đỉa.
Tuy đời sống của loài vạc đó cúng có cái lợi là chúng tôi có nhiều thì giờ rảnh lắm. Mỗi ngày được
18 giờ tự do, biết dùng vào việc gì? Đi chơi chùa nào cũng vào, chợ nào cũng ghé rồi chụp hình, nói
chuyện phiếm viết nhật ký… mà vẫn không hết ngày. Đành phải đọc sách.
Có hồi mưa gió liên tiếp 9-10 ngày, chúng tôi phải nằm co trong một chiếc ghe hầu cửa đóng kín mít
và đậu ở trên những kinh Xa-Nô hoặc Phụng Hiệp, xa chợ, xa quận, xa bạn, xa nhà. Buồn ơi là buồn!
Những lúc đó, không có sách đọc, chắc tôi loạn óc mất.
Trang 1
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Nên gặp sách gì tôi cũng đọc, đọc bậy bạ., hỗn độn, vô phương pháp, vô mục đích, đọc từ những
phóng sự của Maurice Dekobra, truyện trinh thám của Conan Doyle đến những sách về Phật học,
Thông thiên học, và Tiểu thuyết thứ bảy của nhà Tân Dân…
Hán tự hồi ấy tôi mới biết lem nhem được vài nghìn chữ mà cũng mua của một Huê kiều gần cầu tầu
Cần Thơ một bộ Văn tâm điêu long!
Đem về ghe, coi trọn một ngày chẳng hiểu chút gì, đành phải bỏ. Hiểu làm sao nổi! Sách thì khó mà
lại in sai be bét và không chú thích.
Thành thử trong 2 năm trời lênh đênh trên sông rạch, đọc hàng trăm cuốn sách mà thật là có ích lợi thì
chỉ khi có mỗi ngày một bộ, tức bộ
Nho giáo của Trần Trọng Kim mà một ngày mưa dầm, vào trú chân trong một quán tạp hoá ở Bạc
Liêu, tôi tình cờ kiếm được trong một tủ
kính ở góc tiệm, bên cạnh những hộp nhang và đèn cầy.
Bây giờ nghĩ lại mà tiếc! Thì giờ nhiều mà không biết dùng, chịu đọc sách mà không biết cách đọc.
Nói cho đúng, tôi cũng có mờ mờ một mục đích đấy, là trau giồi Việt ngữ, nhưng trau giồi ra làm sao
và nên đọc những sách nào thì xin thú thực là hồi đó tôi không nghĩ đến. Thậm chí, tôi không biết mua
sách ở đâu nữa. Tôi không nói ngoa đâu, thưa bạn. Có lần nghe một người giới thiệu cuốn L'Art
d'écrire của A. Albalat, tôi lại nhà sách Hậu Giang ở Cần Thơ hỏi mua, không có rồi thôi, chứ không
biết hỏi những nhà sách lớn ở Sài Gòn hoặc ngay nhà xuất bản ở bên Pháp.
Tới sách xuất bản trong nước tôi cũng không rõ có những loại gì mà sách xuất bản 20 năm trước có
nhiều gì đâu chứ!
Tình cảnh của tôi quả như một người muốn qua một khu rừng mà không biết phương hướng cứ bước
càn, đường đi về phía Bắc lại quay xuống phương Nam rồi rẽ qua Đông, qua Tây…
Đọc sách như vậy không phải là hoàn toàn vô ích. Dù sao cũng còn hơn là miệt mài trên chiếu tứ sắc
hoặc bê tha ở các quán rượu, và tuy chẳng biết chút gì cho rành mạch, nhưng cũng hiểu lõm bõm mỗi
môn một ít đủ để bàn phiếm trong các cuộc hội họp.
Nhưng giá hồi ấy, tôi biết phương hướng, tự vạch sẵn một đường đi
Trang 2
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
tới đích, thì đã chẳng tốn thì giờ mà còn ích lợi gấp mấy. Làm sao trẻ
lại được hai chục năm nhỉ?
Tôi khờ khạo như vậy, cũng là dễ hiểu. Ở trường ra, có ai chỉ cho tôi cách tự học đâu?
Trước sau, tôi được học non 30 ông thầy vừa Việt vừa Pháp. Mà tôi nhớ chỉ có một vị khuyên tôi đọc
sách để luyện Pháp văn, tức cụ
Dương Quảng Hàm. Cụ giới thiệu cho chúng tôi những tác phẩm của Charles Wagner như Pour les
petits et les grands, Au pays de là-peu-près… và bảo chúng tôi tập lối hành văn của tác giả để viết
luận.
Còn khi ra trường rồi, nên đọc thêm những sách gì thì tuyệt nhiên tôi chưa thấy một giáo sư nào chỉ
bảo cho học sinh.
Ngay ở trường Công chính, tức một trường chuyên môn mà cuối năm thứ ba, khi sắp thi ra, cũng không
có ai nói với sinh viên đại loại như
vầy:
“Các anh đã theo hết chương trình rồi đấy. Nhưng các anh nên nhớ kỹ
lời này: những điều trường đã dạy cho các anh mới chì là một phần mười (hoặc một phần trăm) những
điều người ta đã tìm tòi được về
môn Công chính. Những sách các anh đã học, khoảng 2-3 chục cuốn gì đó, chỉ mới là một phần ngàn
(hay một phần muôn) những sách đã xuất bản về môn Công chính. Những máy các anh đã tập nhắm đều
là những máy cũ rích và cả tới phương pháp tính bê tông cốt sắt mà các anh đã học, cũng là cổ lỗ rồi.
Vậy trong khi các anh làm việc, các anh phải học thêm, học thêm hoài để khỏi thành những nhà chuyên
môn lạc hậu, để theo kịp những tiến bộ của kỹ thuật.
Muốn học thêm thì phải tuần tự. Các anh hãy bắt đầu đọc những cuốn này…, những tạp chí này…”.
Tại những ban khác ra sao tôi không biết, chứ ở ban Công chính thì tuyệt nhiên giáo sư không bao giờ
khuyến khích, hướng dẫn học sinh trong sự tự học, có lẽ vì họ không hiểu rõ bổn phận của họ hoặc
không thấy sự tự học là cần thiết.
Thành thử học sinh ở trường ra, một là tưởng cái gì cũng biết rồi, vênh
Trang 3
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
vênh tự đắc không chịu học thêm, hai là muốn tự học thêm mà không biết cách nào, phải dò dẫm lấy,
vừa tốn tiền, tốn sức, vừa ít kết quả rồi sinh ra chán nản. Trong cuốn Un homme fini tác giả là
Giovanni Papini đã tả một cách sâu sắc và hóm hỉnh một anh chàng hăng hái tự
học mà không được người hướng dẫn, phải thí nghiệm hết cách này cách khác, thử môn này môn nọ,
rốt cuộc chẳng kết quả gì cả.
Chung quanh ta, biết bao người ở trong tình cảnh ấy. Có người muốn học thêm chữ Hán, kiếm đâu
được cuốn “Tam thiên tự” hay “Ngũ
thiên tự”, cặm cụi hàng tháng rồi chán nản, quay ra học về luật, về
toán…, môn nào cũng chỉ được ít lâu, thấy khó quá, đành bỏ dở. Sự
thật, những môn đó không khó đến nỗi một người thông minh trung bình không học nổi đâu. Họ không
thành công vì không biết cách học và không tìm được sách, chưa có những thường thúc mà đọc ngay
phải những sách cao đẳng. Họ cũng như tôi hồi trước, chưa thuộc hết bộ Tân Quốc văn mà đã học Văn
tâm điêu long, chưa có một khái niệm gì rõ ràng đích xác về đạo Phật mà đọc ngay kinh Tam Tạng!
Tự học mà thiếu phương pháp như vậy thì 100 người có tới 95 người thất bại, chỉ được 4-5 người
thành công, nhờ có nhiều nghị lực, chịu kiên nhẫn, lại thông minh, mau hiểu, mau nhớ, nhất là nhờ may
mắn, gặp ngay được một môn hợp với khả năng của minh và những sách hợp với trình độ của mình.
Nghĩ mà buồn: ngay sự học hành, tu luyện của ta cũng đành phó cho may rủi!
Ở Pháp, giữa thế kỷ trước, Auguste Comte đã viết sách hướng dẫn độc giả. Rồi tới đầu thế kỷ này
Henri Mazel soạn cuốn Ce qu'il faut lire dans sa vie, H. de Brandis cho xuất bản cuốn Comment
choisir nos lectures. Gần đây có những cuốn: L'Art de former une bibliothèque của Emile Henriot.
La Bioliothèque de l'Honnête homme của một nhóm học giả soạn
dưới sự điều khiển của M. P. Wigny.
Que lire? Của M. J. Capart.
Organisation du travail intellectuel của P. Chavigny.
La Documentation en science économique của G. Dykmans.
Trang 4
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Voulez-vous étudier seul? của Max Fauconnier.
Quels livres faut il avoir lus? của A. Souché.
Ngoài ra, còn có những cuốn dạy cách đọc sách, như cuốn “L'Art de lire” của Emile Faguet, “Un art
de lire” của A. Jans…
Tại nước mình, chưa có cuốn nào trong loại ấy.
Chúng tôi tự xét học còn ít lắm, nhưng nghĩ ai cũng có bổn phận đem những học hỏi, kinh nghiệm của
mình giúp người khác, nên soạn cuốn sách này để các bạn thanh niên mới ra trường đỡ phải bỡ ngỡ
trong những bước đầu trên con đường tự học.
Chúng tôi khảo cứu một số những sách đã kể ở trên - những cuốn nào mà chúng tôi tìm được - rồi so
sánh lời khuyên của tác giả với kinh nghiệm riêng của mình để tìm ra một phương pháp.
Không khi nào chúng tôi dám tin rằng phương pháp ấy hoàn hảo vì chẳng riêng gì cá nhân, ngay đến cả
nhân loại, hễ còn sống là còn tìm kiếm, thí nghiệm để cải thiện mọi công việc. Vậy chắc chắn cuốn
sách này còn nhiều chỗ sơ sót. Sở dĩ chúng tôi dám trình nó với độc giả là còn mong những bực cao
minh sẽ vì các bạn trẻ hiếu học mà vạch giùm những chỗ thiếu hoặc sai và chỉ bảo cho những kinh
nghiệm riêng tư của chư vị. Được vậy thì thực là vạn hạnh cho chúng tôi.
Long Xuyên ngày 3-1-1954
Trang 5
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Chương I
TẠI SAO PHẢI TỰ HỌC?
Học hoài đi. Cái hại nhất ta tự làm cho ta là thôi học. Thôi học lúc
nào là bắt đầu thụt lùi lúc ấy.
H. N. CASSON
Tôi đặt hạnh phúc của tôi trong sự tìm tòi để hiểu biết.
CLÉMENCEAU
1. Thế nào là tự học
2. Tự học là một nhu cầu tự nhiên.
3. Tự học là một sự cần thiết:
a. Bổ khuyết nền giáo dục ở trường.
b. Có tự học mới làm tròn nhiệm vụ được.
c. Cần biết dùng thì giờ rảnh.
d. Tự học là một nhu cầu của thời đại.
4. Tự học là một cái thú:
a. Tự học là một cuộc du lịch.
b. Ta có quyền tự lựa chọn giáo sư.
c. Các giáo sư đó an ủi ta.
d. Thú vui rất thanh nhã của sự tự học.
5. Cái lợi thiết thực của sự tự học.
Trang 6
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
1. THẾ NÀO LÀ TỰ HỌC?
Các tự điển đều cho tự học là học lấy, không cần thầy. Theo thiền ý, như vậy là sai.
Tôi đóng tiền theo một lớp hàm thụ. Người ta gởi bài cho tôi học, chỗ
nào không hiểu, tôi viết thư hỏi. Người ta lại ra bài cho tôi làm, làm xong có giáo sư sửa. Như vậy là
tôi học có thầy mà cũng vẫn là tự
học.
Thợ thuyền ở Âu, Mỹ, buổi tối thường theo học những lớp dạy về
nghề nghiệp hoặc chính trị… Họ cũng cắp sách tới trường, cũng nghe giáo sư giảng bài rồi về nhà làm
bài, học bài như chúng ta hổi nhỏ
vậy. Mà có ai bảo rằng họ không phải là tự học?
Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không, ta
không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào
cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng.
2. TỰ HỌC LÀ MỘT NHU CẦU TỰ NHIÊN CỦA LOÀI NGƯỜI
Hiểu nghĩa như vậy thì sự tự học là một nhu cầu tự nhiên của loài người.
Chúng ta ai cũng có bản năng tò mò muốn hiểu rõ thêm chính thân ta và vũ trụ ở chung quanh. Nhờ vậy
loài người mơi văn minh, làm chủ
vạn vật, nên có người đã nói một cách ngộ nghĩnh rằng: “Người chỉ
khác loài vật ở chỗ biết hỏi: Tại sao?”
Tuy ai cũng tò mò muốn hiểu biết thêm nhưng phần đông chúng ta có tánh làm biếng, lười suy nghĩ,
không chịu khó nhọc tìm tòi, chỉ thích những cái vui dễ kiếm, và một khi đã đủ ăn, không cần thấy phải
bồi dưỡng tinh thần, đạo đức nữa, nên số người tự học rất ít và người nào đã kiên tâm tự học thì sớm
muộn gì cũng vượt hẳn lên trên những người khác, không giàu sang hơn thì cũng được kính trọng hơn.
3. TỰ HỌC LÀ MỘT SỰ CẦN THIẾT
Trang 7
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
a) Bổ khuyết nền giáo dục ở trường.
Trong cuốn Thế hệ ngày mai, tôi đã chỉ trích nền giáo dục hiện thời của ta. Nó có nhiều khuyết điểm
mà hai khuyết điểm lớn là:
- Quá thiên về trí tuệ, xao nhãng thể dục và đức dục. Ở ban tiểu học, trong 26 giờ, có tới 23 giờ rưỡi
để luyện trí; ở năm thứ 4 ban cao tiểu cũng vậy; còn ở lớp Tân Đệ nhất(1θ moderne) để thi Tú tài
phần nhất, mỗi tuần học sinh học 23 giờ thì có tới 22 giờ về trí dục, thể dục được 1 giờ, đức dục tuyệt
nhiên không có. Tuỳ từng ban, số giờ dạy khoa học chiếm từ 35 tới 56 phần trăm số giờ tổng cộng.
Người ta muốn cho trẻ biết gần đủ các ngành của khoa học; nhưng vì biển học mênh mông, mỗi ngày
sự hiểu biết của loài người càng tăng tiến, dù học suốt đời cũng chưa được bao nhiêu, huống hồ chỉ
mới học trong mươi năm, nên ở ban Trung học ra, học sinh chỉ mới biết qua được it đại cương, ít
thường thức về mỗi ngành mà thôi.
Ở ban Đại học ra thì cũng vậy: về thường thức đã chẳng biết gì hơn mà về ngành chuyên môn thì cũng
chỉ mới học được những điều căn bản. Một bác sĩ y khoa, một dược sư, một tấn sĩ luật khoa chẳng
hạn, nếu không học thêm thì khi mới ở trường ra có biết gì về sử ký, địa lý… hơn một cậu Tú đâu, và
sự học chuyên môn của họ đã có thể giúp ích gì được nhiều đâu.
Vậy họ phải tự học để mang trí tuệ, trau giồi nghề nghiệp và nhất là tu thân luyện tính, tức bổ một chỗ
khuyết lớn trong nền giáo dục họ đã hấp thụ được trên ghế nhà trường.
- Phương pháp dạy ở trường có tính cách quá nhồi sọ. Môn gì cũng cần nhớ, nhớ cho thật nhiều, tới
môn toán pháp mà cũng không dạy trẻ
phân tích, bắt học thuộc cách chứng minh các định lý.
Từ đầu thế kỷ này, biết bao giáo sự và học giả ở Pháp, từ Taine tới Gustave Le Bon, A. Carrel,
Gaston Viaud, Paul Labérenne… đã mạt sát lối bắt nhớ nhiều mà không tập cho suy nghĩ ấy.
Mười nhà doanh nghiệp tiếp xúc với thanh niên thì 9 người phàn nàn rằng “số trung bình những học
sinh ở Trung học hay Đại học ra không hiểu chút gì về công việc, không biết kiến thiết, sáng tạo, chỉ
huy”.
Trang 8
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
Ông Stanley còn nói ba phần tư những thanh niên Anh người ta gởi qua châu Phi cho ông, ngạc nhiên
và luýnh quýnh khi ông bảo họ suy nghĩ lấy. Tại nước Anh còn vậy, nói gì đến nước mình!
Trường học bây giờ đào tạo những con người máy như vậy đó. Nếu ta muốn làm con người chứ không
chịu mãn đời làm cái máy thì tất nhiên ta phải tự học.
b) Có tự học mới làm tròn nhiệm vụ của ta được
Trong gia đình ta có bổn phẩn dạy con, săn sóc sức khoẻ cho mọi người, làm hàng chục những công
việc lặt vặt mà trường có dạy ta chút gì về những chức vụ đó đâu.
Trong xã hội ta phải giao thiệp với mọi hạng người, phải biết ăn nói, biết dò xét tâm lý, chỉ huy, tổ
chức… mà những môn ấy, trường không hề dạy cho ta biết.
Rồi nhiệm vụ làm công dân ở thời đại này nữa, mới nặng nhọc làm sao! Không thể trông cậy vào sự
học ở nhà trường để làm trọn nó được.
Từ khi có bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của các nhà cách mạng ở Pháp, lần lần dân
trong mỗi nước văn minh được quyền tham gia chính trị. Quốc gia không phải là riêng của một nhóm
nào nữa và ai cũng có bổn phận lo việc nước. Thực đúng như lời cố nhân:
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Một lá thăm của ta, mỗi sự
quyết định của ta có thể ảnh hưởng lớn tới sự thịnh suy của cả dân tộc.
Nhiệm vụ quan trọng như vậy mà phần đông chúng ta chẳng hiểu chút gì về chính trị, kinh tế.
Nhờ khoa học, sự giao dịch, thông tin, truyền bá tư tư tưởng phát triển rất mạnh, không một quốc gia
nào ở thời này không chịu ảnh hưởng gần hay xa của các biến cố trong những quốc gia khác. Chiến
tranh ở
Triều Tiên, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, sức khoẻ của Staline, tình hình đình công ở Pháp, nổi loạn ở
Ba Tư, sự tái võ trang nước Đức…, nhất nhất đều định đoạt trong một phần nào chính sách ngoại giao
kinh tế của ta. Cho nên khoa chính trị và kinh tế phức tạp, khó khăn
Trang 9
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
hơn hồi xưa vô cùng. Ta phải biết sử ký, địa lý của mỗi nước, phải biết đời sống và tư tưởng các nhà
cầm quyền của các cường quốc, chính sách ngoại giao của mỗi nội các, tình hình các đảng phái quan
trọng ở Pháp, Anh, Mỹ…, tóm lại biết bao nhiêu điều mà ở trường ra, ta chẳng hiều mảy may gì cả.
Đành phải học lấy.
c) Cần biết dùng thì giờ rảnh.
Tự học còn là một sự cần thiết ở thế kỷ này vì chúng ta có rất nhiều thì giờ rảnh. Hồi xưa anh em lao
động phải làm 12 có khi 14 giờ một ngày. Mới cách đây độ 100 năm, thợ thuyền ở Pháp có khi luôn 56
tháng không được biết ánh sáng mặt trời. Họ dậy từ lúc còn tối, tới hãng làm việc trong hầm luôn tới
trưa, được nghỉ tay 1 giờ để ăn uống ngay tại hãng rồi làm việc tiếp tới khi mặt trời lặn mới được về
nhà, ăn xong, lăn ra ngủ để sáng sớm hôm sau sống cuộc đời hắc ám như vậy tháng này qua tháng khác.
Từ khi luật lao động được áp dụng, chúng ta chỉ phải làm 48 hoặc 40
giờ một tuần. Khoa học càng ngày càng tiến, số giờ đó sẽ còn rút nữa.
Biết đâu đấy, trong vài chục năm nữa, điện tử và nguyên tử lực chẳng cho ta được nghỉ mỗi ngày thêm
vài giờ nữa. Nếu không học thêm thì làm gì cho hết thì giờ rảnh đó? Goethe đã nói: “Vấn đề dùng
những lúc rảnh là vấn đề khó giải quyết nhất của loài người”. Lời đó rất chí lý. Dù có đặt thêm nhiều
món tiêu khiển hữu ích cho anh em lao động thì cũng không đủ, vì chơi hoài sẽ chán; chỉ còn cách là
khuyến khích họ tự học. Nhờ học thêm mà anh em lao động sẽ thấy mình khỏi bị nô lệ máy móc, vì có
dịp suy nghĩ để tránh những công việc quá chuyên môn.
Ông Fourastié trong cuốn Les 40.000 heures bảo hiện nay trí thức của loài người tăng tiến rất mau mà
trong ít chục năm nữa, chúng ta sẽ chỉ
còn phải làm việc 30 giờ một tuần, 40 tuần một năm, lúc đó sự học thêm, sự tự học sẽ là một nhu cầu
khẩn thiết. Hiện nay ở Âu, Mỹ
người ta đã cảm thấy nhu cầu đó rồi.
d) Tự học là một nhu cầu của thời đại – Vừa làm vừa học – Còn
sống còn học.
Ở Pháp, mới trong khoảng mười năm nay, xuất hiện một quan niệm
Trang 10
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
mới càng ngày càng được nhiều người lưu ý tới: quan niệm “giáo dục thường xuyên” (éducation
permanente).
Trước hết, người ta thấy trong mọi ngành, tri thức của loài người tăng tiến rất mau. Chẳng hạn trong
ngành Y khoa, một bác sĩ chuyên trị các bệnh ngoài da bảo tôi: “Năm nào cũng có nhiều phát minh
mới trong ngành chuyên môn của tôi, thành thử sách mới phát hành, khi bầy ở
tiệm sách thì đã hoá cũ rồi. Phải đọc đều đều nhiều tạp chí Y khoa thì mới theo dõi được những tấn bộ
trong nghề”. Những ngành khác cũng gần như vậy.
Rồi người ta lại nghiệm rằng trong mọi ngành hoạt động, một nhân viên trong bất kỳ một cấp bực nào,
càng hiểu biết rộng bao nhiêu thì làm việc càng đắc lực bấy nhiêu. Tất nhiên họ phải hiểu biết về nghề
nghiệp của họ; nhưng bấy nhiêu chưa đủ, họ còn cần biết ít nhiều về
trào lưu tư tưởng trên thế giới, về văn chương, nghệ thuật, chính trị, kinh tế, xã hội học, tâm lý học
nữa. Cho nên trong một hãng nọ, viên Giám đốc mời một vị thạc sĩ văn chương lại diễn thuyết cho
nhân viên nghe về tác phẩm: “Ngư ông và biển cả” của Hemingway rồi cùng thảo luận về nguyện vọng
của loài người trong thời đại này; lần khác mời một thạc sĩ triết học lại nói chuyện về “thân phận con
người trong kịch của Jean Paul Sartre”.
Vậy tri thức chuyên môn tuy vẫn là cần thiết mà tri thức phổ thông càng ngày càng có giá trị vì nó bổ
túc cho cái trên.
Nhưng ở trường học, dù là những trường cao đẳng, đại học, cũng không thể nào dạy đủ được; mà ở
trường ra vài ba năm, nếu sinh viên không theo dõi những tấn bộ trong ngành của mình, thì tri thức
cũng hoá ra lỗi thời cho nên cần có một tổ chức giáo dục thường xuyên.
Ở Pháp, có người đã nghĩ nên rút bớt số giờ làm việc trong mỗi tuần để bổ túc sự giáo dục về nghề
nghiệp và về trí thức phổ thông cho các hạng nhân viên (Bản báo cáo của Rueff Armand – 1960, Tạp
chí
Hommes et Commerce 1963); có người lại mong rằng vài chục năm nữa người ta có thể cho các nhân
viên cao cấp trong mọi ngành cứ làm việc năm sáu năm lại được nghỉ một năm, trở lại Đại học, sống
đời sinh viên trong một năm để trau dồi thêm kiến thức mà theo kịp những
Trang 11
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
tấn bộ về ngành của mình. (Louis Armand – Encyclopédie Universelle
– Gérard et Cie).
Hiện nay những nguyện vọng đó chưa có một quốc gia nào thực hiện được – nước nào, ngân sách về
quốc phòng cũng quá cao mà ngân sách về giáo dục cũng quá thấp – nhưng chỉ vài chục năm nữa thôi,
người ta phải thoả mãn cái nhu cầu của thời đại đó, cái nhu cầu học hỏi thêm hoài, vừa làm vừa học,
còn sống còn học.
Từ sau thế chiến, sự khao khát học hỏi của loài người tăng lên dữ dội.
Ở Pháp, người ta đã tính cứ 100 thanh niên, năm 1900 có 1,5 học tới Tú tài và 1 tới Cử nhân, năm
1920 có 2,2 học tới Tú tài và 2 tới Cử
nhân, năm 1950 có 5 học tới Tú tài và 2 tới Cử nhân, năm 1960 có 11,5 học tới Tú tài và 3,3 tới Cử
nhân, năm 1970 sẽ có 23 học tới Tú tài và 7 tới Cử nhân.
Nghĩa là từ 1950 trở đi, cứ 10 năm thì tỉ số thanh niên có Tú tài, cử
nhân lại tăng lên gấp đôi.
Số sách bán được cũng tăng lên rất mạnh. Ở Huê Kỳ chỉ trong 5 năm, từ 1955 đến 1960, số sách bán
được tăng lên 65% mà số máy truyền hinh (télévision) lại giảm đi trên 20%. Tăng lên mạnh nhất là
loại sách rẻ tiền như Livres de poche, Marabout, Cardinal. Trình độ của những loại sách này cũng
mỗi ngày một tiến; mới đầu người ta chỉ in tiểu thuyết, rồi lần lần người ta xuất bản những cuốn phổ
thông kiến thức về bách khoa.
Ở Pháp không biết có tới mấy chục thứ sách Bách Khoa: từ những thứ
cho thanh niên như Encyclopédie pour la Jeunesse của nhà Larousse, tới những thứ cho những người
lớn ít học như Encyclopédie
universelle của nhà Gérard et Cie, những thứ trình độ cao hơn cho hạng người trí thức như Clarrtés,
Les Grandes encyclopédies
pratiques, Encyclopédie francaise – Larousse… Lại còn những sách nhỏ xét riêng từng vấn đề một
như trong các loại Que Sais-je, Pour connaitre, Petite bibliothèque Payot, Idées (Gallimard) Voici;
Pourquoi? Comment? Ce qu'il nous faut savoir… đủ trình độ cho mọi hạng người chuyên môn hoặc
không chuyên môn. Người ta hiếu học như vậy, trách chi mà chẳng tiến mau.
Trang 12
TỰ HỌC MỘT NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI NGUYỄN HIẾN LÊ
*
Ở một nước lạc hậu, kém phát triển như nước ta, sự giáo dục càng có một tầm quan trọng đặc biệt.
Chúng ta phải thanh toán cho mau cái nạn mù chữ, chúng ta lại phải nâng cao trình độ của quốc dân để
có thể theo kịp được các nước tiên tiến.
Giáo dục ở nhà trường đã thiếu sót mà chúng ta lại chưa thể nghĩ đến một chính sách giáo dục thường
xuyên, cũng chưa có những tổ chức giáo dục sau khi ra trường, thì ít nhất chúng ta cũng phải lưu tâm
tới sự giáo dục đại chúng bằng sách báo.
Đành rằng trong lúc này mọi hoạt động phải hướng cả về chiến tranh, nhưng chúng ta cũng nên nhìn xa
một chút. Cuộc chiến tranh bi thảm này trễ lắm là năm, mười năm nữa cũng phải dứt hoặc tạm ngưng.
Sức chịu đựng của dân chúng xứ nào cũng có hạn – và lúc đó phải kiến thiết. Chiến tranh càng kéo dài
thì khi thái bình, sự kiến thiết càng đòi hỏi nhiều nỗ lực. Và làm sao chúng ta có thể kiến thiết cho
mau, cho đắc lực được khi mà trình độ kỹ thuật và văn hoá của quốc dân rất thấp kém. Khi năm chục
phần trăm dân chúng còn mù chữ, ba chục phần trăm khác may lắm đọc được một trang báo và làm
được bốn phép toán, và tám, chín phần trăm nữa không đọc cái gì khác mấy tờ
báo hằng ngày, mấy tờ báo điện ảnh, mấy tiểu thuyết rẻ tiền; khi những cán bộ trung cấp không hiểu
chút gì về những tư trào hiện đại trên thế giới, những vấn đề khẩn cấp của nhân loại, không nhận chân
được cái hướng tiến của xã hội; khi đa số giáo sư không biết chút gì về
những phong trào tân giáo dục, khi đa số kỹ sư không biết môn tổ
chức công việc từ sau thế chiến đ
 





