Tình người

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hải Yến (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:16' 31-03-2026
Dung lượng: 626.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Hải Yến (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:16' 31-03-2026
Dung lượng: 626.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Những hạt cơm của Phật......................................................................3
Chiếc áo ..................................................................................................7
Dì Tư..................................................................................................... 11
Tiếng chuông Giao Thừa .................................................................... 16
Giọt nước cành dương ........................................................................ 23
Tình người ........................................................................................... 32
Giữ bò ................................................................................................... 40
Chú Dương .......................................................................................... 45
Trả về.................................................................................................... 50
Công án ................................................................................................ 56
2 | Mục lục
Những hạt cơm của Phật
Cứ đúng mười hai giờ trưa chú Tâm Mãn, trịnh trọng trong chiếc áo
năm thân màu lam, mang bình bát đựng cơm cúng Phật đặt lên bàn
giữa của Tổ đường và nhắc tôi một câu:
- Đến giờ cúng ngọ rồi, thưa chú.
Nói xong chú mỉm cười nhìn tôi rồi lui xuống nhà dưới để lo buổi ngọ
thực cho đại chúng. Tôi cũng mỉm cười hoan hỷ lại với chú và buông
bút lông, xếp chồng kinh sách lại chỗ cũ để sửa soạn đi cúng dường.
Ở chùa, phận sự của tôi trong buổi trưa là dâng cơm cúng Phật. Chú
Tâm Mãn thì lo phụ giúp dưới nhà trù và sau khi dọn trai phạn, chờ
cúng Phật xong thì đánh ba tiếng bản hiệu lệnh để báo giờ ngọ thực.
Hôm nay chú Tâm Mãn mang bình bát lên với một nét mặt trầm tư.
Nụ cười mọi hôm không còn nữa. Tôi đỡ lấy bình bát trên tay chú, nói
lời cảm ơn, và nhìn chú trở lui xuống nhà dưới. Chúng tôi trang
nghiêm và buồn bã hơn, vì một cái tang nhỏ đã xảy ra cho chúng tôi
từ ngày hôm qua.
Trước đây nửa tháng, một hôm sau khi cúng Phật xong, tôi đi tắt
những cây đèn nến trong chùa, Khi đến gần bàn Phật để tắt ngọn
bạch lạp cắm trên cặp chân đèn đồng cao, tôi thấy từ trong bình bát
nhảy ra một chú thằn lằn, miệng tha mấy hạt cơm. Đôi mắt sáng như
hai chấm thủy tinh, nhìn tôi như hoảng sợ. Tôi không xua đuổi,
nhưng chú thằn lằn cũng chạy mất về phía sau tượng Phật.
Ngỡ là chỉ một lần thôi, nhưng đến hôm sau, khi tắt đèn, tôi cũng lại
thấy chú thằn lằn từ trong bình bát phóc ra, Cũng hai con mắt sáng
hai châm thủy tinh nhìn tôi kinh hoàng, cũng cái miệng nhỏ tha theo
vài hạt cơm trắng muốt.
Đến hôm sau nữa, tôi để ý rình. Mang theo bình bát đặt lên bàn Phật,
tôi chưa mở nắp vội. Tôi thắp nến, thắp hương, kính cẩn lạy Phật như
thường lệ, thỉnh ba tiếng chuông rồi mới mở nắp bình bát. Chưa thấy
3 | Những hạt cơm của Phật
tăm dạng chú đâu cả. Tôi nhẹ nhàng khai chuông mõ, và xướng bài
cúng hương, rồi tụng chú Đại bi, nhưng kia, lấp ló phía sau đỉnh
trầm, xuất hiện hai chấm sáng như thủy tinh. Tôi bình tĩnh tụng tiếp
chú Đại bi và làm như không hay biết gì cà. Chú thằn lằn tiến tới, tiến
tới dần. Chiếc đầu nhỏ bé đã ngóc lên miệng bình bát. Phút chốc, chú
đã nhảy vào nằm gọn trong bình bát.
Hôm ấy tôi đọc bài Cúng dường không được nhất tâm chút nào. Nghĩ
đến cơm dâng cúng Phật đang bị một con thằn lằn vọc phá, tôi tưởng
như mình đã mang tội bất kính đối với Tam Bảo. Tôi thấy giận cái chú
thằn lằn quái nghịch kia, giận vì nó đã làm cho tôi rối loạn vì một việc
không đâu. Miệng đọc bài Cúng dường mà tâm cứ xao động; có lúc
tôi định đứng dậy đuổi quách con thằn lằn kia đi, nhưng hình như có
một thế lực nào bắt tôi quỳ tụng cho hết bài Cúng dường và Hồi
hướng.
Hôm sau tôi quyết không mở nắp bình bát nữa. Sau khi thắp đèn, đốt
hương, tôi quỳ xuống, khai chuông mõ và cúng dường như thường lệ.
Vẫn đôi chấm thủy tinh xuất hiện sau đỉnh trầm, vẫn chú thằn lằn của
mọi hôm bò dần đến bình bát, nhưng đôi mắt kia đã trông thấy chiếc
bình bát đậy nắp, ngơ ngác nhìn ngược xuôi. Cuối cùng chú thằn lằn
trở về lối cũ phía sau đỉnh trầm.
Trong sát na thứ nhất, tôi thấy sung sướng vì đã trả được cái thù hôm
qua, nhưng qua sát na thứ hai, tâm hồn tôi bỗng nhiên xao xuyến
bâng khuâng, hối hận. Có một cái gì hình như sự tàn nhẫn, nhỏ nhen,
thấp kém, đang làm cho lòng tôi vẩn đục. Tôi khổ tâm quá. Tôi không
dám nhìn đức Phật khi tôi mang bình bát đi ra.
Trưa hôm ấy, tôi cáo mệt, không xuống thọ trai. Độ một giờ trưa, chú
Tâm Mãn lên thăm:
- Chú mệt nhiều không? Em nấu cháo cho chú xơi nhé.
Tôi kéo chú Tâm Mãn ngồi xuống bên đôn và nhìn chú, tôi hỏi:
- Này tôi đố chú nhé: hôm nào mình cũng dâng cơm cúng Phật,
thế Phật có thọ hưởng không?
4 | Những hạt cơm của Phật
- Đã gọi là “hưởng” thì không phải “ăn”.
- À thì ra thế, nhưng này chú Mãn ạ...
- Chú nói gì cứ nói, em xin nghe.
- Tôi tưởng Phật không “ăn” mà cũng không “hưởng”.
- Thì em cũng nghĩ như chú đấy. Bởi vì có một hôm đem bình bát
để xới cơm cúng Phật, em sực nghĩ rằng chúng ta cúng Phật
chẳng phải là cúng cơm cho Phật mà cúng tấm lòng thành của
chúng ta cho Phật mà thôi.
Tôi nắm chặt tay chú Mãn:
- Phải, chú nói đúng lắm. Mỗi ngày đều tưởng nhớ Phật, xem như
đức Phật còn tại thế nên chúng ta mới cúng dường. Sự cúng
dường cốt ở trong tâm mà thôi, vì trong kinh có dạy “cúng Phật
thì công đức vô lượng”.
- Thôi để bây giờ em đố lại chú nhé: tại sao trong kinh lại có câu
“cúng dường chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”? Nhưng
thôi em đùa đấy, chỉ là một câu kinh em không hiểu đem ra hỏi
chú đấy chứ không dám đố chú đâu.
Tôi lặng yên, không dám trả lời. Câu hỏi của người em đồng sư làm
cho tôi choáng váng. Vấn đề giản dị như thế mà tôi đã không giải
quyết được một cách dễ dàng. Bản nguyện của Đức Phật là cứu khổ
ban vui cho mọi loài chúng sinh. Làm cho chúng sinh bớt đau khổ tức
là làm vui lòng chư Phật. Tại sao tôi lại đậy nắp bình bát không cho
con thằn lằn lấy bớt vài hạt cơm để nuôi thân?
- Kìa, sao chú không trả lời em? Chú Tâm Mãn nhắc. Tôi cười:
- Nghĩa là cứ mở nắp cho thằn lằn tự do vào chứ gì.
Thấy bộ tịch ngơ ngác không hiểu ất giáp gì của chú Mãn, tôi bật cười
và kể lại cả câu chuyện cho chú nghe. Tôi cũng không quên cám ơn
chú đã nhắc cho tôi một lối giải quyết hợp lý. Nét mặt chú tươi lên;
chú nói:
5 | Những hạt cơm của Phật
- Nếu thế tại sao mỗi khi cúng Phật, ta không đem theo ít hạt cơm
để dưới chân bình bát? Chú thằn lằn của sư huynh sẽ bằng lòng
với những hạt cơm đó mà không quấy phá đến cơm cúng Phật
nữa.
Thật là thần diệu. Chúng tôi thích ý nắm tay nhau, nhưng không dám
cười vang, sợ gây nên tiếng ồn trong các phương trượng mà đại
chúng đang nghỉ ngơi.
Hôm qua, sau giờ ngọ, tôi nắm tay chú Mãn, báo tin cho chú biết con
thằn lằn của chúng tôi đã chết.
- Tôi đang đốt trầm thì nghe một tiếng “chạch” trên nền đá. Đến
nơi đã thấy nó chết rồi chú ạ.
- Nhưng chắc đâu đó là con thằn lằn của chúng ta độ nọ?
- Sao lại không chắc hả chú? Cho đến hôm qua, nghĩa là đã mươi
hôm nay, hôm nào nó cũng tha cơm cả. Thế mà hôm nay, mấy
hạt cơm tôi đặt dưới chân bình bát vẫn còn nguyên vẹn...
Chú tâm Mãn an ủi tôi:
- Thôi chú ạ, em chắc rằng một khi con thằn lằn đã biết ăn cơm,
nó sẽ không ăn kiến ăn mối. Nó đã không gây tội ác, nó được ăn
cơm Phật thì chắc nó cũng được vãng sinh... Chúng ta cầu
nguyện cho nó.
Tôi nghĩ đến một kiếp sống chúng sinh. Một chút sống nhỏ bé và bèo
bọt nổi lên trên biển hiện tượng, rồi chìm lặng trong quên lãng nghìn
đời.
Tâm trí chìm đắm trong những suy tưởng siêu hình, tôi chậm rãi đáp
lời chú Tâm Mãn:
- Phải, chúng ta nên cầu nguyện cho nó...
6 | Những hạt cơm của Phật
Chiếc áo
Có những chiếc áo không bao giờ xấu và cũ. Tôi có một chiếc áo nâu
đã sờn rách và bạc màu, nhưng tôi quý hơn tất cả những chiếc áo khác
của tôi. Tôi không thấy chiếc áo ấy xấu và cũ một tí nào, trong khi các
bạn đồng học đồng tu của tôi gọi nó là “chiếc áo ba mươi bảy kiếp
khổ hạnh”. Suốt thời gian theo học Phật ở chùa Báo Quốc tôi đã dùng
chiếc áo kia với một sự ưa thích mặn nồng. Chiếc áo ấy nay đã rách
quá, không còn mặc được nữa, nhưng tôi vẫn giữ kỹ bởi vì đó là một
kỷ niệm quý giá trong đời xuất gia thiếu niên của tôi.
Không thấy nó xấu và cũ, bởi vì tôi thường đem cả cái tinh thần chủ
quan của tôi mà nhìn ngắm nó, sử dụng nó. Cái áo đó hơi rộng bởi vì
chính là áo của thầy cho tôi, mà nhất là thầy tôi cho đúng vào lúc tôi
đang sửa soạn một tâm trạng chân thành để phát nguyện sống đời
giải thoát.
Hồi ấy tôi xin vào chùa để học làm điệu, nghĩa là xin tập sự xuất gia.
Lúc tôi xin vào, thì số lượng đại chúng đã là gần hai mươi vị, phần
nhiều là các vị đã tu học lâu năm. Học làm “điệu” như tôi chỉ có ba
người. Chú Tâm Mãn vào sau tôi một năm. Thế là bốn. Chúng tôi học
chung, làm việc chung. Công việc của chúng tôi nặng nề nhất, bởi vì
tuổi tu của chúng tôi ít hơn. Năm thứ nhất, chúng tôi học công phu,
luật Sa di. Năm thứ hai, chúng tôi hoặc Luật giải và những bộ kinh
phổ thông. Năm thứ ba, trong số bốn điệu tôi và chú Mãn được xem
luôn luôn học khác hơn cả. Chúng tôi hy vọng được làm lễ thế độ
trước. Làm lễ thế độ là được chính thức thọ giới xuất gia. Chúng tôi
chờ đợi giờ phút ấy như chờ đợi một sự thành công rực rỡ. Riêng tôi,
tôi mong mỏi giờ phút ấy còn hơn một thí sinh mong mỏi giờ phút
tuyên bố kết quả một cuộc thi sau bao năm học tập.
Giờ phút ấy, cuối cùng, đã đến... Một buổi chiều gánh củi về nhà, tôi
được chú Tâm Mãn báo tin mừng. Thầy tôi (vị Thượng Tọa) sẽ cho tôi
chính thức thọ giới xuất gia trước khi gởi tôi về Phật Học Đường Báo
Quốc. Một mình tôi thôi, bởi vì chỉ có tôi đủ điều kiện tuổi tác và khả
7 | Chiếc áo
năng nhập học. Chú Tâm Mãn vì còn nhỏ, thua tôi hai tuổi, thành thử
dù có sức học nhưng cũng chưa được chính thức làm lễ thế độ.
Trong niềm vui mang ít nhiều bồng bột của tuổi thiến niên ấy, tôi
cảm thấy lớn hẳn lên, quan trọng hẳn lên. Chú Tâm Mãn chia với tôi
niềm vui ấy một cách sốt sắng chân thành. Ngày khai giảng Phật Học
Đường sắp đến. Chúng tôi bàn soạn với nhau về mọi công việc. Riêng
về lễ thọ giới, đã có các Thầy lo liệu cho, tôi chỉ việc ôn lại cho thuộc
lòng bốn quyển luật Sa di mà thôi. Chúng tôi bàn nhau gởi thư về nhà
xin một số tiền nhỏ để nhờ dì Tư đi chợ Bến Ngự mua một ít hương
trầm hoa quả để cúng Phật trong ngày lễ thọ giới của tôi. Nếp và đậu
chúng tôi nhờ dì Tư nấu xôi chè cúng dường đại chúng chư tăng để
kỷ niệm một ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời xuất gia học đạo.
Nhưng nhà thì xa, gởi thư về không biết có kịp không. Chúng tôi bày
tỏ mối lo ngại với dì Tư, dì Tư đã già. Dì cười với hai hàm răng sún
rất là dễ thương: “Các chú cứ gởi thư đi, nếu tiền không đến kịp, tôi
sẽ lấy quỹ của nhà bếp mà mua cho các chú, rồi mình sẽ bù vào sau”.
Thế là chúng tôi mừng rỡ, lên sửa soạn rương kinh sách. Chú Mãn ôm
từng chồng giấy vàng bạc bỏ vào rương tôi. Những giấy vàng vạc là
do người thập phương đem đên cúng chùa. Thầy tôi dặn đừng đốt, để
dùng mà viết kinh. Suốt mấy năm nay chúng tôi đã tập chữ và chép
kinh trên giấy ấy mà học. Chú Tâm Mãn chừng sợ tôi ra tường thiếu
giấy viết, nên ôm bỏ đầy một góc rương của tôi.
Lễ thọ giới của tôi được định vào bốn giờ khuya mai. Tôi hôm nay,
khi cùng đại chúng đi công phu tịnh độ ra, tôi thấy thầy tôi ngồi trên
bồ đoàn, trang nghiêm khâu lại một đường rách của một chiếc áo nâu
cũ, bên ánh sáng lung linh của cây đèn bạch lạp. Thầy tôi ngồi bán
già, ung dung đưa những mũi kim qua lần áo vải. Tuy đã già, nhưng
mắt Thầy còn sáng và dáng ngồi của Thầy còn thẳng. Tôi và chú Tâm
Mãn dừng lại ở cửa phương trượng, ngắm cái cảnh tượng đẹp đẽ
trang nghiêm ấy một lúc lâu. Dưới ánh sáng trong trẻo của ngọn bạch
lạp, bên chiếc án thư đặt một chồng kinh Hán tự, thầy tôi có dáng dấp
tự tại và trang nghiêm của một vị đại Bồ Tát đương sống những phút
trầm tư.
8 | Chiếc áo
Mãi một lúc sau, chúng tôi mới nhè nhẹ bước vào phương trượng.
Thấy động, thầy tôi ngửng lên. Thấy chúng tôi, người sẽ gật đầu cúi
xuống với đường kim nửa chừng. Chú Tâm Mãn thưa:
- Bạch Thầy xin Thầy đi nghỉ kẻo khuya ạ.
Thầy tôi không ngửng lên:
- Để Thầy khâu lại cái áo tràng nâu để sáng mai cho chú Quán
mặc.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao hồi chiều thầy tôi đã mất cả một buổi soạn
lại những chiếc áo cũ. Thì ra thầy tôi tìm một chiếc áo lành lặn nhất
trong số đó, rồi khâu lại một vài đường rách để cho tôi. Ngày mai tôi
sẽ được mặc, lần đầu tiên, một chiếc áo tràng. Ba năm nay chúng tôi
chỉ mới được mặc áo năm thân màu lam. Thọ giới xuất gia, tôi sẽ
được phép mặc thứ áo quí giá ấy, thứ áo mà trong luật gọi là áo giải
thoát - giải thoát phục. Tôi run run bạch lại:
- Bạch Thầy, để chúng con nhờ dì Tư chúng con khâu cũng được.
- Không, thầy muốn tự tay thầy khâu lại cho con.
Im lặng, Chúng tôi vòng tay lễ phép đứng hầu một bên, không dám
nói thêm một lời nào nữa. Một lát sau, thầy tôi, mắt vẫn không rời
mũi kim, lên tiếng:
- Các chú có nghe trong Kinh dạy rằng ngày xưa có một vị đại đệ
tử chỉ nhờ khâu y mà chứng ngộ không? Để thầy nói cho nghe.
Vị đại đệ tử ấy thường tìm sự thích thú an lạc trong việc vá lại
những chiếc y đã rách, vá lại cho mình và những bạn đồng tu.
Mỗi khi đâm qua một mũi kim, ngài làm phát sinh một tâm
niệm lành, một tâm niệm giải thoát. Cho đến một ngày kia, khi
mũi kim vừa thấu qua làn vải, ngài liền thấu suốt được một
pháp môn thâm diệu, và trong sáu mũi liên tiếp, ngài chứng
được lục thông.
Tôi ngước nhìn Thầy tôi với một niềm kính mến vô biên. Thầy tôi với
đạo phong uy nghi thế kia thì dù chưa chứng được lục thông đi nữa
9 | Chiếc áo
cũng đã lên đến một trình độ giải thoát tự tại mà không biết bao
nhiêu lâu nữa, chúng tôi mới mong đạt đến được.
Nhưng chiếc áo đã khâu xong. Thầy tôi ra hiệu cho tôi lại gần. Người
bảo tôi mặc thử. Chiếc áo đối với tôi hơi rộng, nhưng không phải vì
thế mà tôi không cảm thấy hân hoan đến gần chảy nước mắt. Tôi cảm
động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình
thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát
hương vị lý tưởng đã từng nuôi dưỡng chí nguyện của tôi trong suốt
bao nhiêu năm trường xuất gia tu học.
Tôi tiếp nhận cái áo của thầy tôi trao cho mà như tiếp nhận được cả
niềm khuyến khích vô biên kèm theo một tình thương dịu dàng, kín
đáo. Giọng nói của thầy tôi lúc ấy có thể là giọng nói êm dịu nhất mà
tôi đã được nghe:
- Thầy tự khâu lấy cho xong để sáng mai con có áo mà mặc.
Thật là đơn sơ, nhưng tôi cảm động vô cùng khi tôi nghe câu ấy. Thân
tôi tuy lúc ấy không quỳ trước đức Phật, miệng tôi lúc ấy tuy không
đọc lời đại nguyện độ sinh, nhưng lòng tôi lúc ấy thật đã phát lời thệ
nguyện rộng sâu để sống cuộc đời phụng sự. Chú Tâm Mãn đã nhìn
tôi với một cái nhìn cảm mến. Vũ trụ của chúng tôi giờ phút ấy thật là
một vũ trụ của hương hoa.
Cho đến bây giờ. Tôi đã bao nhiêu lần may thêm áo mới. Những chiếc
áo nâu sau này, chiếc nào cũng có một thời gian được ưu đãi rồi cũng
có một thời gian bị lãng quên, nhưng chiếc áo nâu cũ rách năm xưa
bao giờ cũng giữ được địa vị thiêng liêng của nó. Ngày xưa, mỗi lần
tôi mặc áo là tôi nhớ đến Thầy tôi. Ngày nay, chiếc áo rách quá không
còn dùng được nữa, nhưng tôi còn giữ nó đấy để nhiều lúc trầm tư
nhớ lại một kỷ niệm êm đẹp của thời xưa.
10 | C h i ế c á o
Dì Tư
Không biết dì Tư xuất gia từ độ nào. Chỉ nghe nói rằng dì vào chùa
đã lâu lắm, hồi Hòa thượng chưa viên tịch. Năm nay dì đã già lắm, có
lẽ trên 60. Răng của dì chỉ còn lại năm ba cái, nhưng dì còn mạnh
khỏe lắm. Dì ở chung với dì Bang trong một cái liêu nhỏ, phía nhà
Trù. Hai dì lo việc bếp núc để giúp đỡ phần nấu nướng cho chư Tăng.
Dì Bang khó tánh hơn, nên chúng tôi ít gần, còn dì Tư thì luôn luôn
hoan hỷ. Dì thương chúng tôi lắm. Chú Tâm Mãn và tôi khi có chuyện
gì hay, thường đến thuật lại với dì. Bao giờ dì cũng đãi chúng tôi một
nụ cười dễ dãi, hiền hậu. Mỗi khi cười nhiều, đôi mắt dì nheo lại gần
như nhắm. Dì không biết quốc ngữ. Chứ Tâm Mãn dỗ ngon dỗ ngọt
bảo dì học, nhưng dì vẫn nhứt quyết không chịu:
- Thôi, các chú nghĩ bi chừ tui học tiếng Tây mần chi? Tui già rồi.
Các chú mới cần học cho hung để sau ni làm việc cho đạo. (Tôi
xin dịch: Thôi! Các chú nghĩ: bây giờ tôi học tiếng Tây làm gì?
Tôi già rồi. Các chú mới cần học cho nhiều, để sau này làm việc
cho đạo).
Chú Mãn cười:
- Ấy, ai bảo dì học tiếng Tây dâu? Chúng tôi khuyên dì học chữ
quốc ngữ mà. Chữ quốc ngữ là chữ của nước mình.
Nhưng dì không nghe. Bởi vì dì không thể tin rằng cái thứ chữ viết
bằng bút sắt mà lại là cái chữ của mình được. Chữ của nước mình,
theo dì, là chữ “an nam”, chữ viết bằng bút lông kia.
Về chữ “an nam” thì dì cũng biết vò vẽ. Nghĩa là dì có thể đọc chập
chững được bài Thập phương hay bài Nhất tâm quy mạng. Dì rất
siêng năng. Không có thời tịnh độ nào là dì không đi. Mỗi khi gần đến
giờ tịnh là dì lo rửa mặt, rửa tay thật sạch sẽ. Dì mặc chiếc áo rộng
màu lam, cổ đeo một tràng hạt huyền đen nhánh, chân đi đôi guốc lẹp
kẹp. Dì kéo lê đôi guốc từ dưới bếp lên lầu chuông, rồi thì từ lầu
11 | D ì T ư
chuông, dì đi chân không vào chùa đứng nép vào một góc để chờ đại
chúng thăng đường hành lễ.
Dì rất ham học. Dì đã thuộc lòng Di Đà, Hồng Danh Khể Thủ và Quy
Mạng. Dì muốn học Lăng Nghiêm. Chú Tâm Mãn và tôi sợ dì không
thể nào thuộc được Lăng Nghiêm, bởi vì chú Lăng Nghiêm dài bằng
năm sáu chú Đại bi. Làm sao mà dì học thuộc cho nổi, khi mà dì đã
già rồi, trí óc dì đã lẩm cẩm hay quyên rồi! Nhưng dì tha thiết quá,
thành khẩn quá. Chúng tôi đành phải chiều dì. Thế là chú Tâm Mãn
lấy một xấp giấy vàng bạc, đóng cho dì một cuốn tập. Tôi dán thêm
cho dì hai cái bìa cứng phết nước nâu. Mỗi ngày tôi viết trên sách ấy
mấy câu, bắt đầu từ Diệu trạm tổng trì bất động tôn... Chữ viết rất
lớn, một chữ to gần bằng hộp diêm. Tôi nói:
- Bắt đầu từ hôm nay, chú Mãn chỉ cho dì học, mỗi ngày một câu.
Dì siêng năng thì chừng ... năm tháng có thể học thuộc được
kinh này.
Dì cười, mắt híp lại và hai hàm răng sún vẫn rất dễ thương:
- Năm tháng không xong thì bảy tháng. bảy tháng không xong thì
một năm. Chú đừng lo tôi không thuộc.
Rồi dì học rất siêng năng, Chú Mãn cứ tiếp tục chỉ cho dì học, ba bốn
hôm như thế. Cho đến hôm thứ năm, khi chú Mãn sắp sửa chỉ bài
mới, tôi liền đến “khảo hạch”, bắt dì đọc lại bài cũ. Bị thầy bắt trả bài
một cách bất ngờ, học trò luống cuống ngay. Thế là dì đọc không trôi
tám câu đã học. Tôi nói:
- Không được. Học như thế này thì không bao giờ thuộc được
Lăng Nghiêm, Rồi cứ học sau quên trước, học trước quên sau,
đến bao giờ thuộc được.
- Rứa thì thưa chú, chú có cách chi học cho mau thuộc, chú chỉ
biểu cho tui học với.
Tôi nói:
12 | D ì T ư
- Bây giờ thì thế này. Mỗi ngày học vài câu. Hôm nay chỉ bài,
ngày mai dò lại. Mà dò không thuộc thì bắt học lại bài cũ. Cứ ba
bữa thì học ôn một lần. Dì chịu không?
- Chịu.
- Vậy thì bữa nay bắt đầu học lại. Hôm nào không thuộc thì bị
phạt.
- Phạt thì tôi cũng chịu phạt, bởi vì học mà không sợ phạt thì mần
răng cho mau giỏi, nhưng mấy chú tính phạt mần răng? Quỳ
hương thì tôi quỳ không nổi, bởi vì đầu gối yếu hung (yếu lắm)
rồi.
Tôi cười:
- Ai bắt dì quỳ hương bao giờ. Để nghĩ ra cách khác.
Dì lại cười:
- Thưa các chú, các chú cứ nghĩ đi.
Tôi đang nghĩ đến các lối phạt ở trường học, nào “Cồng xin”
(consigne), nào chép bài, nào quét lớp... thì bỗng chú Mãn phá lên
cười. Tôi vội mắng:
Ấy chết, không được cười lớn, chú Mãn! Quý Thầy nghe, quý Thầy
rầy chết. Phải học hạnh trang nghiêm, chớ bao giờ cười lớn như thế.
Chú Mãn cố nín cười:
- Em đang nghĩ đến một lối phạt, mà đã nghĩ ra rồi nên bật cười
không thể ngăn cản được.
Tôi hỏi:
- Chú nghĩ ra cách nào, nói thử xem.
- Thế này nhé, mỗi khi dì không thuộc, thì dì phải cung cấp cho
hai anh em mình bốn khuôn đậu phụ chiên để ăn trong bữa cơm
ngọ.
13 | D ì T ư
Dì Tư cười gần ngã sấp. nhưng tôi tán thành ngay:
- Phải đấy, tôi đồng ý với cái lối phạt đó.
Cái món ăn thích nhất của chúng tôi là đậu khuôn (đậu phụ) chiên.
Chùa nghèo, thành thử phần lớn các bữa ăn đều là đạm bạc. Một bữa
cơm có đậu phụ đối với chúng tôi, là một bữa cơm “lý tưởng” mà dì
Tư lại có thể là tác giả của những bữa cơm lý tưởng ấy! Bởi vì dì giữ
cái phần đi chợ, mua các thức ăn. Bốn khuôn đậu (hay hai thôi cũng
quý rồi) dành riêng cho chúng tôi! Thật là một điều hy hữu. Chúng tôi
thường chấp tác ngoài vườn chùa từ mười tới mười hai giờ, và
thường trở về chùa ăn cơm sau đại chúng. Một mâm cơm nhỏ đợi hai
chúng tôi ở trên ghế quá đường mỗi khi chúng tôi về muộn. Nếu trên
mâm cơm ấy mà thỉnh thoảng “ngự” một đĩa đậu khuôn rán thì thú
biết chừng nào!
Cái lối phạt mà chúng tôi mới phát minh ra, chúng tôi rất bằng lòng
nó. Dì Tư cũng bằng lòng. Ấy thế là thỉnh thoảng chúng tôi được
thưởng thức trong bữa cơm những miếng đậu phụ thơm tho và ngon
lành. Chú Tâm Mãn còn ít tuổi nên có lúc không nhịn được cười, cứ
vừa ăn vừa khúc khích. Tôi cũng muốn cười, nhưng thấy mình lớn
hơn, đành phải “lập nghiêm”:
- À ra cái chú Tâm Mãn này, ăn cơm không quán “ngũ quán” mà
cứ cười mãi nhé!
Có một độ, dì Tư thuộc bài luôn luôn. Chúng tôi không có dịp phạt và
vì thế, đậu khuôn cũng vắng trên mâm cơm, tôi nói với chú Tâm Mãn
trong một bữa cơm trưa:
- Lâu nay không có đậu khuôn chú Mãn nhỉ.
Chú Mãn ghé miệng vào tai tôi thầm thì. Tôi gật đầu và mỉm cười:
- Đồng ý với chú.
Thế là buổi chiều hôm đó, dì Tư phải học đến bốn câu. Tôi chắc thế
nào ngày mai dì cũng “bị phạt”. Trưa ngày hôm sau, vào giờ “chỉ
tịnh” tôi xuống bếp tìm mượn cây dao nhíp lên rọc giấy đóng sách, thì
14 | D ì T ư
thấy dì đang dựa lưng vào thành cối ngủ gật, tay cầm quyển kinh.
Nghe tiếng động, dì ngồi ngay dậy. Tôi hỏi:
- Sao dì không vào nghỉ trưa một chút kẻo mệt? Dì đi nghỉ đi, để
chiều làm việc. Chiều nay còn đi kiếm thêm củi nữa nhé.
Dì nói nhỏ:
- Tui phải học cho thuộc không thì chiều ni bị chú Mãn phạt.
Nguy lắm.
Tôi cười:
- Nguy gì! Chỉ tốn công chiên đậu phụ mà thôi.
Nhưng dì gọi tôi đến gần, hạ giọng:
Chiên đậu thì không tốn công mô, nhưng mà lâu nay tiền chợ hằng
ngày thầy thủ khố (quản lý) phát chừng mực lắm. Năm nay lúa ruộng
của chùa thâu được không bao lăm. Tiền không đủ mua rau cho đại
chúng, thì lấy mô để mà mua đậu khuôn nộp phạt.
- Vì vậy mà dì cố học bài cho thuộc để khỏi bị phạt chớ gì?
Dì gật. Cái gật đầu có vẻ đăm chiêu, nhưng rồi dì lại cười. Nghe dì
nói, và nhìn cái cười của dì, tôi thấy hơi hối hận. Rồi cảm thấy thương
dì vô hạn. Tôi nói:
- Tôi và chú Mãn sẽ bỏ cái lối phạt ấy từ nay. Sẽ tìm cách phạt
khác. Từ nay dì đừng chịu phạt đậu khuôn nữa nhé. Thôi dì cất
sách mà đi nghỉ một lát kẻo mệt.
Dì Tư vui vẻ làm theo ngay. Tôi vào phòng chú Mãn, thầm thì với chú
câu chuyện vừa xảy ra. Rồi tôi dí một ngón tay lên trán chú:
- Chỉ tại chú đấy nhé.
Chú Mãn nhìn tôi hơi trách móc, và nói như làm nũng:
- Thế ai bảo chú đồng ý với em?
15 | D ì T ư
Tiếng chuông Giao Thừa
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất,
nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi
biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng.
Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn
đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn ai hết. Thật ra, trong
số sáu người hồi cư, không ai là không mong cho mau về đến chùa.
Xa chùa đã mấy tháng, chúng tôi không mong sao được. Nhữ
Những hạt cơm của Phật......................................................................3
Chiếc áo ..................................................................................................7
Dì Tư..................................................................................................... 11
Tiếng chuông Giao Thừa .................................................................... 16
Giọt nước cành dương ........................................................................ 23
Tình người ........................................................................................... 32
Giữ bò ................................................................................................... 40
Chú Dương .......................................................................................... 45
Trả về.................................................................................................... 50
Công án ................................................................................................ 56
2 | Mục lục
Những hạt cơm của Phật
Cứ đúng mười hai giờ trưa chú Tâm Mãn, trịnh trọng trong chiếc áo
năm thân màu lam, mang bình bát đựng cơm cúng Phật đặt lên bàn
giữa của Tổ đường và nhắc tôi một câu:
- Đến giờ cúng ngọ rồi, thưa chú.
Nói xong chú mỉm cười nhìn tôi rồi lui xuống nhà dưới để lo buổi ngọ
thực cho đại chúng. Tôi cũng mỉm cười hoan hỷ lại với chú và buông
bút lông, xếp chồng kinh sách lại chỗ cũ để sửa soạn đi cúng dường.
Ở chùa, phận sự của tôi trong buổi trưa là dâng cơm cúng Phật. Chú
Tâm Mãn thì lo phụ giúp dưới nhà trù và sau khi dọn trai phạn, chờ
cúng Phật xong thì đánh ba tiếng bản hiệu lệnh để báo giờ ngọ thực.
Hôm nay chú Tâm Mãn mang bình bát lên với một nét mặt trầm tư.
Nụ cười mọi hôm không còn nữa. Tôi đỡ lấy bình bát trên tay chú, nói
lời cảm ơn, và nhìn chú trở lui xuống nhà dưới. Chúng tôi trang
nghiêm và buồn bã hơn, vì một cái tang nhỏ đã xảy ra cho chúng tôi
từ ngày hôm qua.
Trước đây nửa tháng, một hôm sau khi cúng Phật xong, tôi đi tắt
những cây đèn nến trong chùa, Khi đến gần bàn Phật để tắt ngọn
bạch lạp cắm trên cặp chân đèn đồng cao, tôi thấy từ trong bình bát
nhảy ra một chú thằn lằn, miệng tha mấy hạt cơm. Đôi mắt sáng như
hai chấm thủy tinh, nhìn tôi như hoảng sợ. Tôi không xua đuổi,
nhưng chú thằn lằn cũng chạy mất về phía sau tượng Phật.
Ngỡ là chỉ một lần thôi, nhưng đến hôm sau, khi tắt đèn, tôi cũng lại
thấy chú thằn lằn từ trong bình bát phóc ra, Cũng hai con mắt sáng
hai châm thủy tinh nhìn tôi kinh hoàng, cũng cái miệng nhỏ tha theo
vài hạt cơm trắng muốt.
Đến hôm sau nữa, tôi để ý rình. Mang theo bình bát đặt lên bàn Phật,
tôi chưa mở nắp vội. Tôi thắp nến, thắp hương, kính cẩn lạy Phật như
thường lệ, thỉnh ba tiếng chuông rồi mới mở nắp bình bát. Chưa thấy
3 | Những hạt cơm của Phật
tăm dạng chú đâu cả. Tôi nhẹ nhàng khai chuông mõ, và xướng bài
cúng hương, rồi tụng chú Đại bi, nhưng kia, lấp ló phía sau đỉnh
trầm, xuất hiện hai chấm sáng như thủy tinh. Tôi bình tĩnh tụng tiếp
chú Đại bi và làm như không hay biết gì cà. Chú thằn lằn tiến tới, tiến
tới dần. Chiếc đầu nhỏ bé đã ngóc lên miệng bình bát. Phút chốc, chú
đã nhảy vào nằm gọn trong bình bát.
Hôm ấy tôi đọc bài Cúng dường không được nhất tâm chút nào. Nghĩ
đến cơm dâng cúng Phật đang bị một con thằn lằn vọc phá, tôi tưởng
như mình đã mang tội bất kính đối với Tam Bảo. Tôi thấy giận cái chú
thằn lằn quái nghịch kia, giận vì nó đã làm cho tôi rối loạn vì một việc
không đâu. Miệng đọc bài Cúng dường mà tâm cứ xao động; có lúc
tôi định đứng dậy đuổi quách con thằn lằn kia đi, nhưng hình như có
một thế lực nào bắt tôi quỳ tụng cho hết bài Cúng dường và Hồi
hướng.
Hôm sau tôi quyết không mở nắp bình bát nữa. Sau khi thắp đèn, đốt
hương, tôi quỳ xuống, khai chuông mõ và cúng dường như thường lệ.
Vẫn đôi chấm thủy tinh xuất hiện sau đỉnh trầm, vẫn chú thằn lằn của
mọi hôm bò dần đến bình bát, nhưng đôi mắt kia đã trông thấy chiếc
bình bát đậy nắp, ngơ ngác nhìn ngược xuôi. Cuối cùng chú thằn lằn
trở về lối cũ phía sau đỉnh trầm.
Trong sát na thứ nhất, tôi thấy sung sướng vì đã trả được cái thù hôm
qua, nhưng qua sát na thứ hai, tâm hồn tôi bỗng nhiên xao xuyến
bâng khuâng, hối hận. Có một cái gì hình như sự tàn nhẫn, nhỏ nhen,
thấp kém, đang làm cho lòng tôi vẩn đục. Tôi khổ tâm quá. Tôi không
dám nhìn đức Phật khi tôi mang bình bát đi ra.
Trưa hôm ấy, tôi cáo mệt, không xuống thọ trai. Độ một giờ trưa, chú
Tâm Mãn lên thăm:
- Chú mệt nhiều không? Em nấu cháo cho chú xơi nhé.
Tôi kéo chú Tâm Mãn ngồi xuống bên đôn và nhìn chú, tôi hỏi:
- Này tôi đố chú nhé: hôm nào mình cũng dâng cơm cúng Phật,
thế Phật có thọ hưởng không?
4 | Những hạt cơm của Phật
- Đã gọi là “hưởng” thì không phải “ăn”.
- À thì ra thế, nhưng này chú Mãn ạ...
- Chú nói gì cứ nói, em xin nghe.
- Tôi tưởng Phật không “ăn” mà cũng không “hưởng”.
- Thì em cũng nghĩ như chú đấy. Bởi vì có một hôm đem bình bát
để xới cơm cúng Phật, em sực nghĩ rằng chúng ta cúng Phật
chẳng phải là cúng cơm cho Phật mà cúng tấm lòng thành của
chúng ta cho Phật mà thôi.
Tôi nắm chặt tay chú Mãn:
- Phải, chú nói đúng lắm. Mỗi ngày đều tưởng nhớ Phật, xem như
đức Phật còn tại thế nên chúng ta mới cúng dường. Sự cúng
dường cốt ở trong tâm mà thôi, vì trong kinh có dạy “cúng Phật
thì công đức vô lượng”.
- Thôi để bây giờ em đố lại chú nhé: tại sao trong kinh lại có câu
“cúng dường chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”? Nhưng
thôi em đùa đấy, chỉ là một câu kinh em không hiểu đem ra hỏi
chú đấy chứ không dám đố chú đâu.
Tôi lặng yên, không dám trả lời. Câu hỏi của người em đồng sư làm
cho tôi choáng váng. Vấn đề giản dị như thế mà tôi đã không giải
quyết được một cách dễ dàng. Bản nguyện của Đức Phật là cứu khổ
ban vui cho mọi loài chúng sinh. Làm cho chúng sinh bớt đau khổ tức
là làm vui lòng chư Phật. Tại sao tôi lại đậy nắp bình bát không cho
con thằn lằn lấy bớt vài hạt cơm để nuôi thân?
- Kìa, sao chú không trả lời em? Chú Tâm Mãn nhắc. Tôi cười:
- Nghĩa là cứ mở nắp cho thằn lằn tự do vào chứ gì.
Thấy bộ tịch ngơ ngác không hiểu ất giáp gì của chú Mãn, tôi bật cười
và kể lại cả câu chuyện cho chú nghe. Tôi cũng không quên cám ơn
chú đã nhắc cho tôi một lối giải quyết hợp lý. Nét mặt chú tươi lên;
chú nói:
5 | Những hạt cơm của Phật
- Nếu thế tại sao mỗi khi cúng Phật, ta không đem theo ít hạt cơm
để dưới chân bình bát? Chú thằn lằn của sư huynh sẽ bằng lòng
với những hạt cơm đó mà không quấy phá đến cơm cúng Phật
nữa.
Thật là thần diệu. Chúng tôi thích ý nắm tay nhau, nhưng không dám
cười vang, sợ gây nên tiếng ồn trong các phương trượng mà đại
chúng đang nghỉ ngơi.
Hôm qua, sau giờ ngọ, tôi nắm tay chú Mãn, báo tin cho chú biết con
thằn lằn của chúng tôi đã chết.
- Tôi đang đốt trầm thì nghe một tiếng “chạch” trên nền đá. Đến
nơi đã thấy nó chết rồi chú ạ.
- Nhưng chắc đâu đó là con thằn lằn của chúng ta độ nọ?
- Sao lại không chắc hả chú? Cho đến hôm qua, nghĩa là đã mươi
hôm nay, hôm nào nó cũng tha cơm cả. Thế mà hôm nay, mấy
hạt cơm tôi đặt dưới chân bình bát vẫn còn nguyên vẹn...
Chú tâm Mãn an ủi tôi:
- Thôi chú ạ, em chắc rằng một khi con thằn lằn đã biết ăn cơm,
nó sẽ không ăn kiến ăn mối. Nó đã không gây tội ác, nó được ăn
cơm Phật thì chắc nó cũng được vãng sinh... Chúng ta cầu
nguyện cho nó.
Tôi nghĩ đến một kiếp sống chúng sinh. Một chút sống nhỏ bé và bèo
bọt nổi lên trên biển hiện tượng, rồi chìm lặng trong quên lãng nghìn
đời.
Tâm trí chìm đắm trong những suy tưởng siêu hình, tôi chậm rãi đáp
lời chú Tâm Mãn:
- Phải, chúng ta nên cầu nguyện cho nó...
6 | Những hạt cơm của Phật
Chiếc áo
Có những chiếc áo không bao giờ xấu và cũ. Tôi có một chiếc áo nâu
đã sờn rách và bạc màu, nhưng tôi quý hơn tất cả những chiếc áo khác
của tôi. Tôi không thấy chiếc áo ấy xấu và cũ một tí nào, trong khi các
bạn đồng học đồng tu của tôi gọi nó là “chiếc áo ba mươi bảy kiếp
khổ hạnh”. Suốt thời gian theo học Phật ở chùa Báo Quốc tôi đã dùng
chiếc áo kia với một sự ưa thích mặn nồng. Chiếc áo ấy nay đã rách
quá, không còn mặc được nữa, nhưng tôi vẫn giữ kỹ bởi vì đó là một
kỷ niệm quý giá trong đời xuất gia thiếu niên của tôi.
Không thấy nó xấu và cũ, bởi vì tôi thường đem cả cái tinh thần chủ
quan của tôi mà nhìn ngắm nó, sử dụng nó. Cái áo đó hơi rộng bởi vì
chính là áo của thầy cho tôi, mà nhất là thầy tôi cho đúng vào lúc tôi
đang sửa soạn một tâm trạng chân thành để phát nguyện sống đời
giải thoát.
Hồi ấy tôi xin vào chùa để học làm điệu, nghĩa là xin tập sự xuất gia.
Lúc tôi xin vào, thì số lượng đại chúng đã là gần hai mươi vị, phần
nhiều là các vị đã tu học lâu năm. Học làm “điệu” như tôi chỉ có ba
người. Chú Tâm Mãn vào sau tôi một năm. Thế là bốn. Chúng tôi học
chung, làm việc chung. Công việc của chúng tôi nặng nề nhất, bởi vì
tuổi tu của chúng tôi ít hơn. Năm thứ nhất, chúng tôi học công phu,
luật Sa di. Năm thứ hai, chúng tôi hoặc Luật giải và những bộ kinh
phổ thông. Năm thứ ba, trong số bốn điệu tôi và chú Mãn được xem
luôn luôn học khác hơn cả. Chúng tôi hy vọng được làm lễ thế độ
trước. Làm lễ thế độ là được chính thức thọ giới xuất gia. Chúng tôi
chờ đợi giờ phút ấy như chờ đợi một sự thành công rực rỡ. Riêng tôi,
tôi mong mỏi giờ phút ấy còn hơn một thí sinh mong mỏi giờ phút
tuyên bố kết quả một cuộc thi sau bao năm học tập.
Giờ phút ấy, cuối cùng, đã đến... Một buổi chiều gánh củi về nhà, tôi
được chú Tâm Mãn báo tin mừng. Thầy tôi (vị Thượng Tọa) sẽ cho tôi
chính thức thọ giới xuất gia trước khi gởi tôi về Phật Học Đường Báo
Quốc. Một mình tôi thôi, bởi vì chỉ có tôi đủ điều kiện tuổi tác và khả
7 | Chiếc áo
năng nhập học. Chú Tâm Mãn vì còn nhỏ, thua tôi hai tuổi, thành thử
dù có sức học nhưng cũng chưa được chính thức làm lễ thế độ.
Trong niềm vui mang ít nhiều bồng bột của tuổi thiến niên ấy, tôi
cảm thấy lớn hẳn lên, quan trọng hẳn lên. Chú Tâm Mãn chia với tôi
niềm vui ấy một cách sốt sắng chân thành. Ngày khai giảng Phật Học
Đường sắp đến. Chúng tôi bàn soạn với nhau về mọi công việc. Riêng
về lễ thọ giới, đã có các Thầy lo liệu cho, tôi chỉ việc ôn lại cho thuộc
lòng bốn quyển luật Sa di mà thôi. Chúng tôi bàn nhau gởi thư về nhà
xin một số tiền nhỏ để nhờ dì Tư đi chợ Bến Ngự mua một ít hương
trầm hoa quả để cúng Phật trong ngày lễ thọ giới của tôi. Nếp và đậu
chúng tôi nhờ dì Tư nấu xôi chè cúng dường đại chúng chư tăng để
kỷ niệm một ngày đáng ghi nhớ nhất trong đời xuất gia học đạo.
Nhưng nhà thì xa, gởi thư về không biết có kịp không. Chúng tôi bày
tỏ mối lo ngại với dì Tư, dì Tư đã già. Dì cười với hai hàm răng sún
rất là dễ thương: “Các chú cứ gởi thư đi, nếu tiền không đến kịp, tôi
sẽ lấy quỹ của nhà bếp mà mua cho các chú, rồi mình sẽ bù vào sau”.
Thế là chúng tôi mừng rỡ, lên sửa soạn rương kinh sách. Chú Mãn ôm
từng chồng giấy vàng bạc bỏ vào rương tôi. Những giấy vàng vạc là
do người thập phương đem đên cúng chùa. Thầy tôi dặn đừng đốt, để
dùng mà viết kinh. Suốt mấy năm nay chúng tôi đã tập chữ và chép
kinh trên giấy ấy mà học. Chú Tâm Mãn chừng sợ tôi ra tường thiếu
giấy viết, nên ôm bỏ đầy một góc rương của tôi.
Lễ thọ giới của tôi được định vào bốn giờ khuya mai. Tôi hôm nay,
khi cùng đại chúng đi công phu tịnh độ ra, tôi thấy thầy tôi ngồi trên
bồ đoàn, trang nghiêm khâu lại một đường rách của một chiếc áo nâu
cũ, bên ánh sáng lung linh của cây đèn bạch lạp. Thầy tôi ngồi bán
già, ung dung đưa những mũi kim qua lần áo vải. Tuy đã già, nhưng
mắt Thầy còn sáng và dáng ngồi của Thầy còn thẳng. Tôi và chú Tâm
Mãn dừng lại ở cửa phương trượng, ngắm cái cảnh tượng đẹp đẽ
trang nghiêm ấy một lúc lâu. Dưới ánh sáng trong trẻo của ngọn bạch
lạp, bên chiếc án thư đặt một chồng kinh Hán tự, thầy tôi có dáng dấp
tự tại và trang nghiêm của một vị đại Bồ Tát đương sống những phút
trầm tư.
8 | Chiếc áo
Mãi một lúc sau, chúng tôi mới nhè nhẹ bước vào phương trượng.
Thấy động, thầy tôi ngửng lên. Thấy chúng tôi, người sẽ gật đầu cúi
xuống với đường kim nửa chừng. Chú Tâm Mãn thưa:
- Bạch Thầy xin Thầy đi nghỉ kẻo khuya ạ.
Thầy tôi không ngửng lên:
- Để Thầy khâu lại cái áo tràng nâu để sáng mai cho chú Quán
mặc.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao hồi chiều thầy tôi đã mất cả một buổi soạn
lại những chiếc áo cũ. Thì ra thầy tôi tìm một chiếc áo lành lặn nhất
trong số đó, rồi khâu lại một vài đường rách để cho tôi. Ngày mai tôi
sẽ được mặc, lần đầu tiên, một chiếc áo tràng. Ba năm nay chúng tôi
chỉ mới được mặc áo năm thân màu lam. Thọ giới xuất gia, tôi sẽ
được phép mặc thứ áo quí giá ấy, thứ áo mà trong luật gọi là áo giải
thoát - giải thoát phục. Tôi run run bạch lại:
- Bạch Thầy, để chúng con nhờ dì Tư chúng con khâu cũng được.
- Không, thầy muốn tự tay thầy khâu lại cho con.
Im lặng, Chúng tôi vòng tay lễ phép đứng hầu một bên, không dám
nói thêm một lời nào nữa. Một lát sau, thầy tôi, mắt vẫn không rời
mũi kim, lên tiếng:
- Các chú có nghe trong Kinh dạy rằng ngày xưa có một vị đại đệ
tử chỉ nhờ khâu y mà chứng ngộ không? Để thầy nói cho nghe.
Vị đại đệ tử ấy thường tìm sự thích thú an lạc trong việc vá lại
những chiếc y đã rách, vá lại cho mình và những bạn đồng tu.
Mỗi khi đâm qua một mũi kim, ngài làm phát sinh một tâm
niệm lành, một tâm niệm giải thoát. Cho đến một ngày kia, khi
mũi kim vừa thấu qua làn vải, ngài liền thấu suốt được một
pháp môn thâm diệu, và trong sáu mũi liên tiếp, ngài chứng
được lục thông.
Tôi ngước nhìn Thầy tôi với một niềm kính mến vô biên. Thầy tôi với
đạo phong uy nghi thế kia thì dù chưa chứng được lục thông đi nữa
9 | Chiếc áo
cũng đã lên đến một trình độ giải thoát tự tại mà không biết bao
nhiêu lâu nữa, chúng tôi mới mong đạt đến được.
Nhưng chiếc áo đã khâu xong. Thầy tôi ra hiệu cho tôi lại gần. Người
bảo tôi mặc thử. Chiếc áo đối với tôi hơi rộng, nhưng không phải vì
thế mà tôi không cảm thấy hân hoan đến gần chảy nước mắt. Tôi cảm
động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình
thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát
hương vị lý tưởng đã từng nuôi dưỡng chí nguyện của tôi trong suốt
bao nhiêu năm trường xuất gia tu học.
Tôi tiếp nhận cái áo của thầy tôi trao cho mà như tiếp nhận được cả
niềm khuyến khích vô biên kèm theo một tình thương dịu dàng, kín
đáo. Giọng nói của thầy tôi lúc ấy có thể là giọng nói êm dịu nhất mà
tôi đã được nghe:
- Thầy tự khâu lấy cho xong để sáng mai con có áo mà mặc.
Thật là đơn sơ, nhưng tôi cảm động vô cùng khi tôi nghe câu ấy. Thân
tôi tuy lúc ấy không quỳ trước đức Phật, miệng tôi lúc ấy tuy không
đọc lời đại nguyện độ sinh, nhưng lòng tôi lúc ấy thật đã phát lời thệ
nguyện rộng sâu để sống cuộc đời phụng sự. Chú Tâm Mãn đã nhìn
tôi với một cái nhìn cảm mến. Vũ trụ của chúng tôi giờ phút ấy thật là
một vũ trụ của hương hoa.
Cho đến bây giờ. Tôi đã bao nhiêu lần may thêm áo mới. Những chiếc
áo nâu sau này, chiếc nào cũng có một thời gian được ưu đãi rồi cũng
có một thời gian bị lãng quên, nhưng chiếc áo nâu cũ rách năm xưa
bao giờ cũng giữ được địa vị thiêng liêng của nó. Ngày xưa, mỗi lần
tôi mặc áo là tôi nhớ đến Thầy tôi. Ngày nay, chiếc áo rách quá không
còn dùng được nữa, nhưng tôi còn giữ nó đấy để nhiều lúc trầm tư
nhớ lại một kỷ niệm êm đẹp của thời xưa.
10 | C h i ế c á o
Dì Tư
Không biết dì Tư xuất gia từ độ nào. Chỉ nghe nói rằng dì vào chùa
đã lâu lắm, hồi Hòa thượng chưa viên tịch. Năm nay dì đã già lắm, có
lẽ trên 60. Răng của dì chỉ còn lại năm ba cái, nhưng dì còn mạnh
khỏe lắm. Dì ở chung với dì Bang trong một cái liêu nhỏ, phía nhà
Trù. Hai dì lo việc bếp núc để giúp đỡ phần nấu nướng cho chư Tăng.
Dì Bang khó tánh hơn, nên chúng tôi ít gần, còn dì Tư thì luôn luôn
hoan hỷ. Dì thương chúng tôi lắm. Chú Tâm Mãn và tôi khi có chuyện
gì hay, thường đến thuật lại với dì. Bao giờ dì cũng đãi chúng tôi một
nụ cười dễ dãi, hiền hậu. Mỗi khi cười nhiều, đôi mắt dì nheo lại gần
như nhắm. Dì không biết quốc ngữ. Chứ Tâm Mãn dỗ ngon dỗ ngọt
bảo dì học, nhưng dì vẫn nhứt quyết không chịu:
- Thôi, các chú nghĩ bi chừ tui học tiếng Tây mần chi? Tui già rồi.
Các chú mới cần học cho hung để sau ni làm việc cho đạo. (Tôi
xin dịch: Thôi! Các chú nghĩ: bây giờ tôi học tiếng Tây làm gì?
Tôi già rồi. Các chú mới cần học cho nhiều, để sau này làm việc
cho đạo).
Chú Mãn cười:
- Ấy, ai bảo dì học tiếng Tây dâu? Chúng tôi khuyên dì học chữ
quốc ngữ mà. Chữ quốc ngữ là chữ của nước mình.
Nhưng dì không nghe. Bởi vì dì không thể tin rằng cái thứ chữ viết
bằng bút sắt mà lại là cái chữ của mình được. Chữ của nước mình,
theo dì, là chữ “an nam”, chữ viết bằng bút lông kia.
Về chữ “an nam” thì dì cũng biết vò vẽ. Nghĩa là dì có thể đọc chập
chững được bài Thập phương hay bài Nhất tâm quy mạng. Dì rất
siêng năng. Không có thời tịnh độ nào là dì không đi. Mỗi khi gần đến
giờ tịnh là dì lo rửa mặt, rửa tay thật sạch sẽ. Dì mặc chiếc áo rộng
màu lam, cổ đeo một tràng hạt huyền đen nhánh, chân đi đôi guốc lẹp
kẹp. Dì kéo lê đôi guốc từ dưới bếp lên lầu chuông, rồi thì từ lầu
11 | D ì T ư
chuông, dì đi chân không vào chùa đứng nép vào một góc để chờ đại
chúng thăng đường hành lễ.
Dì rất ham học. Dì đã thuộc lòng Di Đà, Hồng Danh Khể Thủ và Quy
Mạng. Dì muốn học Lăng Nghiêm. Chú Tâm Mãn và tôi sợ dì không
thể nào thuộc được Lăng Nghiêm, bởi vì chú Lăng Nghiêm dài bằng
năm sáu chú Đại bi. Làm sao mà dì học thuộc cho nổi, khi mà dì đã
già rồi, trí óc dì đã lẩm cẩm hay quyên rồi! Nhưng dì tha thiết quá,
thành khẩn quá. Chúng tôi đành phải chiều dì. Thế là chú Tâm Mãn
lấy một xấp giấy vàng bạc, đóng cho dì một cuốn tập. Tôi dán thêm
cho dì hai cái bìa cứng phết nước nâu. Mỗi ngày tôi viết trên sách ấy
mấy câu, bắt đầu từ Diệu trạm tổng trì bất động tôn... Chữ viết rất
lớn, một chữ to gần bằng hộp diêm. Tôi nói:
- Bắt đầu từ hôm nay, chú Mãn chỉ cho dì học, mỗi ngày một câu.
Dì siêng năng thì chừng ... năm tháng có thể học thuộc được
kinh này.
Dì cười, mắt híp lại và hai hàm răng sún vẫn rất dễ thương:
- Năm tháng không xong thì bảy tháng. bảy tháng không xong thì
một năm. Chú đừng lo tôi không thuộc.
Rồi dì học rất siêng năng, Chú Mãn cứ tiếp tục chỉ cho dì học, ba bốn
hôm như thế. Cho đến hôm thứ năm, khi chú Mãn sắp sửa chỉ bài
mới, tôi liền đến “khảo hạch”, bắt dì đọc lại bài cũ. Bị thầy bắt trả bài
một cách bất ngờ, học trò luống cuống ngay. Thế là dì đọc không trôi
tám câu đã học. Tôi nói:
- Không được. Học như thế này thì không bao giờ thuộc được
Lăng Nghiêm, Rồi cứ học sau quên trước, học trước quên sau,
đến bao giờ thuộc được.
- Rứa thì thưa chú, chú có cách chi học cho mau thuộc, chú chỉ
biểu cho tui học với.
Tôi nói:
12 | D ì T ư
- Bây giờ thì thế này. Mỗi ngày học vài câu. Hôm nay chỉ bài,
ngày mai dò lại. Mà dò không thuộc thì bắt học lại bài cũ. Cứ ba
bữa thì học ôn một lần. Dì chịu không?
- Chịu.
- Vậy thì bữa nay bắt đầu học lại. Hôm nào không thuộc thì bị
phạt.
- Phạt thì tôi cũng chịu phạt, bởi vì học mà không sợ phạt thì mần
răng cho mau giỏi, nhưng mấy chú tính phạt mần răng? Quỳ
hương thì tôi quỳ không nổi, bởi vì đầu gối yếu hung (yếu lắm)
rồi.
Tôi cười:
- Ai bắt dì quỳ hương bao giờ. Để nghĩ ra cách khác.
Dì lại cười:
- Thưa các chú, các chú cứ nghĩ đi.
Tôi đang nghĩ đến các lối phạt ở trường học, nào “Cồng xin”
(consigne), nào chép bài, nào quét lớp... thì bỗng chú Mãn phá lên
cười. Tôi vội mắng:
Ấy chết, không được cười lớn, chú Mãn! Quý Thầy nghe, quý Thầy
rầy chết. Phải học hạnh trang nghiêm, chớ bao giờ cười lớn như thế.
Chú Mãn cố nín cười:
- Em đang nghĩ đến một lối phạt, mà đã nghĩ ra rồi nên bật cười
không thể ngăn cản được.
Tôi hỏi:
- Chú nghĩ ra cách nào, nói thử xem.
- Thế này nhé, mỗi khi dì không thuộc, thì dì phải cung cấp cho
hai anh em mình bốn khuôn đậu phụ chiên để ăn trong bữa cơm
ngọ.
13 | D ì T ư
Dì Tư cười gần ngã sấp. nhưng tôi tán thành ngay:
- Phải đấy, tôi đồng ý với cái lối phạt đó.
Cái món ăn thích nhất của chúng tôi là đậu khuôn (đậu phụ) chiên.
Chùa nghèo, thành thử phần lớn các bữa ăn đều là đạm bạc. Một bữa
cơm có đậu phụ đối với chúng tôi, là một bữa cơm “lý tưởng” mà dì
Tư lại có thể là tác giả của những bữa cơm lý tưởng ấy! Bởi vì dì giữ
cái phần đi chợ, mua các thức ăn. Bốn khuôn đậu (hay hai thôi cũng
quý rồi) dành riêng cho chúng tôi! Thật là một điều hy hữu. Chúng tôi
thường chấp tác ngoài vườn chùa từ mười tới mười hai giờ, và
thường trở về chùa ăn cơm sau đại chúng. Một mâm cơm nhỏ đợi hai
chúng tôi ở trên ghế quá đường mỗi khi chúng tôi về muộn. Nếu trên
mâm cơm ấy mà thỉnh thoảng “ngự” một đĩa đậu khuôn rán thì thú
biết chừng nào!
Cái lối phạt mà chúng tôi mới phát minh ra, chúng tôi rất bằng lòng
nó. Dì Tư cũng bằng lòng. Ấy thế là thỉnh thoảng chúng tôi được
thưởng thức trong bữa cơm những miếng đậu phụ thơm tho và ngon
lành. Chú Tâm Mãn còn ít tuổi nên có lúc không nhịn được cười, cứ
vừa ăn vừa khúc khích. Tôi cũng muốn cười, nhưng thấy mình lớn
hơn, đành phải “lập nghiêm”:
- À ra cái chú Tâm Mãn này, ăn cơm không quán “ngũ quán” mà
cứ cười mãi nhé!
Có một độ, dì Tư thuộc bài luôn luôn. Chúng tôi không có dịp phạt và
vì thế, đậu khuôn cũng vắng trên mâm cơm, tôi nói với chú Tâm Mãn
trong một bữa cơm trưa:
- Lâu nay không có đậu khuôn chú Mãn nhỉ.
Chú Mãn ghé miệng vào tai tôi thầm thì. Tôi gật đầu và mỉm cười:
- Đồng ý với chú.
Thế là buổi chiều hôm đó, dì Tư phải học đến bốn câu. Tôi chắc thế
nào ngày mai dì cũng “bị phạt”. Trưa ngày hôm sau, vào giờ “chỉ
tịnh” tôi xuống bếp tìm mượn cây dao nhíp lên rọc giấy đóng sách, thì
14 | D ì T ư
thấy dì đang dựa lưng vào thành cối ngủ gật, tay cầm quyển kinh.
Nghe tiếng động, dì ngồi ngay dậy. Tôi hỏi:
- Sao dì không vào nghỉ trưa một chút kẻo mệt? Dì đi nghỉ đi, để
chiều làm việc. Chiều nay còn đi kiếm thêm củi nữa nhé.
Dì nói nhỏ:
- Tui phải học cho thuộc không thì chiều ni bị chú Mãn phạt.
Nguy lắm.
Tôi cười:
- Nguy gì! Chỉ tốn công chiên đậu phụ mà thôi.
Nhưng dì gọi tôi đến gần, hạ giọng:
Chiên đậu thì không tốn công mô, nhưng mà lâu nay tiền chợ hằng
ngày thầy thủ khố (quản lý) phát chừng mực lắm. Năm nay lúa ruộng
của chùa thâu được không bao lăm. Tiền không đủ mua rau cho đại
chúng, thì lấy mô để mà mua đậu khuôn nộp phạt.
- Vì vậy mà dì cố học bài cho thuộc để khỏi bị phạt chớ gì?
Dì gật. Cái gật đầu có vẻ đăm chiêu, nhưng rồi dì lại cười. Nghe dì
nói, và nhìn cái cười của dì, tôi thấy hơi hối hận. Rồi cảm thấy thương
dì vô hạn. Tôi nói:
- Tôi và chú Mãn sẽ bỏ cái lối phạt ấy từ nay. Sẽ tìm cách phạt
khác. Từ nay dì đừng chịu phạt đậu khuôn nữa nhé. Thôi dì cất
sách mà đi nghỉ một lát kẻo mệt.
Dì Tư vui vẻ làm theo ngay. Tôi vào phòng chú Mãn, thầm thì với chú
câu chuyện vừa xảy ra. Rồi tôi dí một ngón tay lên trán chú:
- Chỉ tại chú đấy nhé.
Chú Mãn nhìn tôi hơi trách móc, và nói như làm nũng:
- Thế ai bảo chú đồng ý với em?
15 | D ì T ư
Tiếng chuông Giao Thừa
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất,
nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi
biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng.
Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn
đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn ai hết. Thật ra, trong
số sáu người hồi cư, không ai là không mong cho mau về đến chùa.
Xa chùa đã mấy tháng, chúng tôi không mong sao được. Nhữ
 





